Tội vi phạm quy định về cạnh tranh không chỉ làm méo mó môi trường cạnh tranh mà còn gây thiệt hại nghiêm trọng cho doanh nghiệp, người tiêu dùng và nền kinh tế. Trong nhiều trường hợp, các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hoặc lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn hiểu rõ dấu hiệu của tội vi phạm quy định về cạnh tranh, quy định pháp luật hiện hành, mức xử lý và những vấn đề pháp lý doanh nghiệp cần lưu ý để phòng ngừa rủi ro.

I. Thực trạng tội vi phạm quy định về cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh

Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, một số doanh nghiệp đã thực hiện các hành vi như thỏa thuận ấn định giá, phân chia thị trường, hạn chế sản lượng hoặc thông đồng nhằm loại bỏ đối thủ để thu lợi bất chính. Những hành vi này không chỉ xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác, người tiêu dùng mà còn làm méo mó môi trường cạnh tranh, cản trở sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế.

Khi các hành vi vi phạm đáp ứng đủ dấu hiệu cấu thành theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), cá nhân và pháp nhân thương mại có liên quan có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về cạnh tranh. Vì vậy, việc nhận diện đúng hành vi vi phạm, hiểu rõ quy định pháp luật và xây dựng cơ chế tuân thủ là yêu cầu cần thiết đối với mọi doanh nghiệp trong quá trình hoạt động kinh doanh.

II. Tội vi phạm quy định về cạnh tranh là gì?

Để phòng ngừa rủi ro pháp lý trong hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp cần hiểu rõ khái niệm, dấu hiệu nhận biết và các hành vi có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về cạnh tranh theo quy định của pháp luật. 

1. Tội vi phạm quy định về cạnh tranh được hiểu như thế nào?

Theo Điều 217 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) tội vi phạm quy định về cạnh tranh là hành vi thực hiện các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị pháp luật cấm, gây thiệt hại cho người khác từ 1 tỷ đồng trở lên hoặc thu lợi bất chính từ 500 triệu đồng trở lên, đủ điều kiện để bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Các hành vi có thể cấu thành tội phạm bao gồm:

  • Thỏa thuận ngăn cản hoặc kìm hãm doanh nghiệp khác tham gia hoặc phát triển trên thị trường;
  • Thỏa thuận loại bỏ doanh nghiệp không phải là các bên của thỏa thuận khỏi thị trường;
  • Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh như ấn định giá, phân chia thị trường, hạn chế sản lượng, hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ hoặc áp đặt điều kiện giao kết hợp đồng trái pháp luật khi các bên tham gia có thị phần kết hợp từ 30% trở lên trên thị trường liên quan.

Không phải mọi hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh đều bị xử lý hình sự. Chỉ khi hành vi đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015 thì cá nhân hoặc pháp nhân thương mại mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

2. Những dấu hiệu nhận biết tội vi phạm quy định về cạnh tranh

Để xác định một hành vi có cấu thành tội vi phạm quy định về cạnh tranh hay không, cần xem xét các dấu hiệu pháp lý cơ bản sau:

  • Chủ thể thực hiện hành vi: Chủ thể của tội phạm có thể là cá nhân có đủ năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại đáp ứng điều kiện chịu trách nhiệm hình sự.
  • Hành vi vi phạm: Người phạm tội thực hiện các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm như thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm doanh nghiệp khác tham gia hoặc phát triển kinh doanh; thỏa thuận loại bỏ doanh nghiệp khác khỏi thị trường; thỏa thuận ấn định giá, phân chia thị trường, hạn chế sản xuất, hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ hoặc áp đặt điều kiện giao kết hợp đồng trái pháp luật theo quy định của Điều 217 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Hậu quả hoặc mục đích thu lợi bất chính: Hành vi chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi gây thiệt hại cho người khác từ 1 tỷ đồng trở lên hoặc thu lợi bất chính từ 500 triệu đồng trở lên. Trường hợp gây thiệt hại hoặc thu lợi ở mức cao hơn, người phạm tội có thể bị áp dụng khung hình phạt nghiêm khắc hơn.
  • Lỗi của người thực hiện hành vi: Đây là tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý. Người thực hiện nhận thức được hành vi hạn chế cạnh tranh của mình có thể gây ảnh hưởng đến thị trường, xâm phạm quyền lợi của chủ thể khác nhưng vẫn thực hiện nhằm đạt lợi ích hoặc tạo lợi thế cạnh tranh không hợp pháp.

Như vậy, không phải mọi hành vi vi phạm quy định về cạnh tranh đều bị xử lý hình sự. Chỉ những hành vi có đầy đủ dấu hiệu về chủ thể, hành vi, hậu quả và lỗi theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) mới có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về cạnh tranh.

3. Phân biệt tội vi phạm quy định về cạnh tranh với hành vi cạnh tranh không lành mạnh

Mặc dù đều ảnh hưởng đến môi trường cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh, nhưng tội vi phạm quy định về cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh có sự khác biệt rõ rệt về tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả pháp lý.

Tiêu chí so sánh

Tội vi phạm quy định về cạnh tranh

Hành vi cạnh tranh không lành mạnh

Căn cứ pháp lý

Điều 217 Bộ luật Hình sự năm 2015

(sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Điều 45 Luật Cạnh tranh năm 2018.

Bản chất hành vi

Là hành vi có tính chất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế.

Chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm theo quy định pháp luật.

Là hành vi cạnh tranh trái với nguyên tắc trung thực, thiện chí, tập quán kinh doanh lành mạnh.

Gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác nhưng chưa nhất thiết phải đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

Hành vi vi phạm cụ thể

Liên quan đến các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bao gồm:

  • Thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm doanh nghiệp khác tham gia hoặc phát triển kinh doanh.
  • Thỏa thuận loại bỏ doanh nghiệp khác khỏi thị trường.
  • Thỏa thuận ấn định giá, phân chia thị trường, hạn chế sản xuất, hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ hoặc áp đặt điều kiện giao kết hợp đồng trái pháp luật.

Các hành vi bị cấm theo Điều 45 Luật Cạnh tranh 2018 bao gồm:

  • Xâm phạm thông tin bí mật trong kinh doanh.
  • Ép buộc khách hàng, đối tác của doanh nghiệp khác.
  • Cung cấp thông tin không trung thực về doanh nghiệp khác.
  • Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác.
  • Lôi kéo khách hàng bất chính.
  • Bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ doanh nghiệp khác.

Điều kiện xử lý

Chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi:

  • Gây thiệt hại cho người khác từ 1.000.000.000 đồng trở lên hoặc
  • Thu lợi bất chính từ 500.000.000 đồng trở lên.

Chỉ cần thực hiện hành vi thuộc trường hợp bị cấm theo Điều 45 Luật Cạnh tranh năm 2018 là có thể bị xử lý theo quy định pháp luật cạnh tranh (không yêu cầu tối thiểu định lượng thiệt hại).

Chế tài áp dụng

Truy cứu trách nhiệm hình sự:

  • Cá nhân: Phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù.
  • Pháp nhân thương mại: Phạt tiền hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn / vĩnh viễn.

Biện pháp xử lý hành chính:

  • Phạt tiền.
  • Buộc chấm dứt hành vi vi phạm.
  • Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định.

Vì vậy, không phải mọi hành vi cạnh tranh không lành mạnh đều là tội phạm. Chỉ những hành vi có tính chất nghiêm trọng, đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu về chủ thể, hành vi, hậu quả và lỗi theo Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) mới có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về cạnh tranh.

III. Quy định của pháp luật về tội vi phạm quy định về cạnh tranh

Pháp luật quy định cụ thể về hành vi bị truy cứu trách nhiệm hình sự, mức hình phạt và các vấn đề liên quan đối với tội vi phạm quy định về cạnh tranh nhằm bảo đảm môi trường kinh doanh minh bạch, công bằng và lành mạnh. 

1. Những hành vi nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về cạnh tranh?

Theo Điều 217 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), các hành vi có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về cạnh tranh gồm:

  • Thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh.
  • Thỏa thuận loại bỏ doanh nghiệp khác khỏi thị trường.
  • Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh như: ấn định giá hàng hóa, dịch vụ; phân chia thị trường, nguồn cung cấp; hạn chế hoặc kiểm soát sản lượng; hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ hoặc áp đặt điều kiện giao kết hợp đồng trái pháp luật.

Các hành vi này chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi gây thiệt hại cho người khác từ 1 tỷ đồng trở lên hoặc thu lợi bất chính từ 500 triệu đồng trở lên theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

2. Hình phạt áp dụng đối với cá nhân và pháp nhân thương mại phạm tội vi phạm quy định về cạnh tranh

Theo Điều 217 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung tại Khoản 50 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017), cá nhân và pháp nhân thương mại phạm tội vi phạm quy định về cạnh tranh có thể bị áp dụng các hình phạt sau:

  • Đối với cá nhân:
    • Phạt tiền từ 200 triệu đồng đến 1 tỷ đồng;
    • Phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
    • Trường hợp phạm tội nghiêm trọng hơn như phạm tội nhiều lần, dùng thủ đoạn tinh vi, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền, thu lợi bất chính từ 3 tỷ đồng trở lên hoặc gây thiệt hại từ 5 tỷ đồng trở lên có thể bị phạt tiền từ 1 tỷ đồng đến 3 tỷ đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
    • Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 200 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
  • Đối với pháp nhân thương mại:
    • Bị phạt tiền từ 1 tỷ đồng đến 3 tỷ đồng đối với trường hợp phạm tội theo khoản 1 Điều 217.
    • Bị phạt tiền từ 3 tỷ đồng đến 5 tỷ đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 02 năm đối với trường hợp phạm tội nghiêm trọng hơn.
    • Ngoài ra, pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 100 triệu đồng đến 500 triệu đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

Do đó, tùy thuộc vào tính chất, mức độ vi phạm, hậu quả gây ra và khoản lợi bất chính thu được, cá nhân hoặc pháp nhân thương mại có thể phải chịu các hình phạt khác nhau theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

3. Trường hợp nào được miễn hoặc giảm trách nhiệm hình sự đối với tội vi phạm quy định về cạnh tranh?

Theo Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), người phạm tội vi phạm quy định về cạnh tranh có thể được xem xét miễn hoặc giảm trách nhiệm hình sự khi có các tình tiết theo quy định chung của pháp luật hình sự, cụ thể:

  • Tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội gây ra là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Trường hợp người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ, Tòa án có thể xem xét quyết định mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) nếu đủ điều kiện.
  • Người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự trong các trường hợp đáp ứng điều kiện theo Điều 29 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), như có căn cứ cho thấy không còn nguy hiểm cho xã hội hoặc thuộc trường hợp được pháp luật cho phép miễn trách nhiệm hình sự.

Từ đó, pháp luật không quy định riêng về việc miễn, giảm trách nhiệm hình sự cho tội vi phạm quy định về cạnh tranh, mà việc xem xét chủ yếu áp dụng theo các quy định chung về miễn trách nhiệm hình sự và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

4. Chứng cứ nào thường được sử dụng để chứng minh tội vi phạm quy định về cạnh tranh?

Để chứng minh tội vi phạm quy định về cạnh tranh, cơ quan tiến hành tố tụng thường sử dụng các chứng cứ nhằm xác định hành vi vi phạm, hậu quả xảy ra và lỗi của người thực hiện. Các chứng cứ phổ biến gồm:

  • Tài liệu, thỏa thuận, hợp đồng, thư điện tử, tin nhắn, biên bản họp thể hiện việc các doanh nghiệp có sự thống nhất thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh như ấn định giá, phân chia thị trường hoặc hạn chế hoạt động kinh doanh.
  • Tài liệu về hoạt động kinh doanh, tài chính, kế toán như báo cáo doanh thu, lợi nhuận, hóa đơn, chứng từ để xác định mức thiệt hại hoặc khoản thu lợi bất chính.
  • Dữ liệu điện tử, thông tin trao đổi nội bộ giữa cá nhân, doanh nghiệp liên quan đến việc thực hiện hành vi vi phạm.
  • Kết luận giám định, kết quả xác minh của cơ quan có thẩm quyền về cạnh tranh nhằm đánh giá tác động của hành vi đối với thị trường và mức độ vi phạm.
  • Lời khai của người liên quan, người làm chứng và các tài liệu khác có liên quan đến vụ việc.

Các chứng cứ trên được xem xét tổng hợp để xác định cá nhân hoặc pháp nhân thương mại có thực hiện hành vi thuộc Điều 217 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) hay không, đồng thời làm căn cứ xác định mức độ trách nhiệm hình sự.

IV. Giải đáp các thắc mắc thường gặp về tội vi phạm quy định về cạnh tranh

Những câu hỏi thường gặp dưới đây sẽ giúp doanh nghiệp và cá nhân hiểu rõ hơn về hành vi, trách nhiệm pháp lý và cách xử lý khi có liên quan đến tội vi phạm quy định về cạnh tranh.

1. Doanh nghiệp thỏa thuận phân chia khách hàng có phải là tội vi phạm quy định về cạnh tranh không?

Thỏa thuận phân chia khách hàng có thể bị xem là tội vi phạm quy định về cạnh tranh nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo Điều 217 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Cụ thể, hành vi này thuộc nhóm thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, bao gồm thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ. Khi các bên tham gia thỏa thuận có thị phần kết hợp từ 30% trở lên trên thị trường liên quan và gây thiệt hại từ 1 tỷ đồng trở lên hoặc thu lợi bất chính từ 500 triệu đồng trở lên, cá nhân hoặc pháp nhân thương mại có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp doanh nghiệp phân chia khách hàng đều bị xử lý hình sự. Cơ quan có thẩm quyền sẽ xem xét tính chất hành vi, mức độ hạn chế cạnh tranh, hậu quả gây ra và các điều kiện cấu thành tội phạm theo quy định pháp luật.

2. Hành vi thông đồng trong đấu thầu có bị xử lý về tội vi phạm quy định về cạnh tranh không?

Hành vi thông đồng trong đấu thầu có thể bị xem xét xử lý về tội vi phạm quy định về cạnh tranh nếu hành vi này thuộc trường hợp thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm theo Điều 217 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Cụ thể, việc các doanh nghiệp thỏa thuận với nhau để làm sai lệch kết quả đấu thầu, hạn chế sự cạnh tranh giữa các bên tham gia hoặc tạo lợi thế không hợp pháp cho một doanh nghiệp có thể được xem là hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.

Tuy nhiên, để bị truy cứu trách nhiệm hình sự, hành vi phải gây thiệt hại cho người khác từ 1 tỷ đồng trở lên hoặc thu lợi bất chính từ 500 triệu đồng trở lên cùng các điều kiện khác theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Ngoài ra, tùy vào tính chất, mục đích và hậu quả của hành vi, việc thông đồng trong đấu thầu còn có thể bị xem xét xử lý theo các quy định khác của pháp luật, trong đó có quy định về tội vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng nếu đủ yếu tố cấu thành.

3. Người quản lý doanh nghiệp có phải chịu trách nhiệm hình sự nếu doanh nghiệp phạm tội vi phạm quy định về cạnh tranh?

Người quản lý doanh nghiệp có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu trực tiếp thực hiện, chỉ đạo, quyết định hoặc biết rõ hành vi vi phạm nhưng vẫn để xảy ra hành vi phạm tội.

Theo Điều 217 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), pháp nhân thương mại cũng có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về cạnh tranh khi đáp ứng các điều kiện theo quy định pháp luật.

Tuy nhiên, việc doanh nghiệp bị truy cứu trách nhiệm hình sự không đồng nghĩa mọi người quản lý đều bị xử lý hình sự. Cá nhân quản lý chỉ phải chịu trách nhiệm khi có đủ căn cứ xác định có hành vi phạm tội, có lỗi và có vai trò trong việc thực hiện hoặc chỉ đạo hành vi vi phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

4. Doanh nghiệp tự nguyện chấm dứt hành vi vi phạm có được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hay không?

Việc doanh nghiệp tự nguyện chấm dứt hành vi vi phạm, khắc phục hậu quả và hợp tác với cơ quan có thẩm quyền có thể được xem xét là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nếu vụ việc đủ yếu tố cấu thành tội phạm.

Theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), việc người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Tuy nhiên, việc tự nguyện chấm dứt hành vi vi phạm không đồng nghĩa với việc được miễn trách nhiệm hình sự. Cơ quan tiến hành tố tụng sẽ xem xét toàn diện các yếu tố như mức độ vi phạm, thiệt hại gây ra, khoản lợi bất chính, thái độ hợp tác và các tình tiết giảm nhẹ khác theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

5. Làm thế nào để doanh nghiệp chứng minh mình không thực hiện tội vi phạm quy định về cạnh tranh?

Doanh nghiệp không có nghĩa vụ tự chứng minh vô tội; trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng. Tuy nhiên, doanh nghiệp có thể bảo vệ quyền lợi của mình bằng cách:

  • Cung cấp chứng cứ chứng minh không có thỏa thuận hạn chế cạnh tranh như ấn định giá, phân chia thị trường, hạn chế sản xuất hoặc loại bỏ đối thủ theo Điều 217 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Chứng minh không lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền thông qua hồ sơ thị phần, chính sách kinh doanh và dữ liệu giao dịch.
  • Làm rõ chưa có đủ căn cứ về thiệt hại hoặc khoản thu lợi bất chính để truy cứu trách nhiệm hình sự.
  • Thực hiện quyền cung cấp chứng cứ, yêu cầu giám định và nhờ luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Do đó, việc lưu trữ đầy đủ hồ sơ kinh doanh, tuân thủ quy định cạnh tranh và chủ động cung cấp chứng cứ phù hợp là cơ sở quan trọng giúp doanh nghiệp chứng minh không thực hiện tội vi phạm quy định về cạnh tranh và hạn chế rủi ro pháp lý.

V. Khi nào nên liên hệ NPLaw để được tư vấn về tội vi phạm quy định về cạnh tranh?

Doanh nghiệp nên liên hệ NPLaw khi phát sinh dấu hiệu liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh, bị cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, điều tra hoặc cần đánh giá rủi ro pháp lý trong hoạt động kinh doanh.

NPLaw có thể hỗ trợ doanh nghiệp rà soát hành vi, đánh giá nguy cơ bị truy cứu trách nhiệm hình sự, xây dựng phương án xử lý, thu thập chứng cứ và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp theo quy định pháp luật.

Trên đây là các thông tin mang tính tham khảo, Quý khách hàng cần tư vấn chi tiết về trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ cho Hãng luật NPLaw để được tư vấn ngay.