Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là một trong những hành vi xâm phạm nghiêm trọng đến trật tự quản lý kinh tế, quyền lợi người tiêu dùng và môi trường cạnh tranh lành mạnh. Việc hiểu đúng quy định của pháp luật về tội sản xuất, buôn bán hàng giả sẽ giúp cá nhân, doanh nghiệp nhận diện rủi ro pháp lý, chủ động phòng ngừa vi phạm cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi phát sinh vụ việc.

I. Tội sản xuất, buôn bán hàng giả và những tác động đối với thị trường

Trong bối cảnh hoạt động thương mại ngày càng phát triển, cùng với sự bùng nổ của thương mại điện tử và các nền tảng mạng xã hội, tội sản xuất, buôn bán hàng giả đang có xu hướng gia tăng cả về quy mô, phương thức và mức độ tinh vi. Hàng giả không còn xuất hiện chủ yếu ở các mặt hàng tiêu dùng thông thường mà đã lan rộng sang nhiều lĩnh vực có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng và tài sản của người dân như thuốc chữa bệnh, thực phẩm, mỹ phẩm, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, linh kiện điện tử, phụ tùng ô tô, xe máy và nhiều loại hàng hóa khác. Các đối tượng vi phạm thường lợi dụng uy tín của các thương hiệu nổi tiếng, sử dụng công nghệ hiện đại để làm giả bao bì, tem chống giả, mã QR hoặc giấy tờ chứng minh nguồn gốc nhằm đánh lừa người tiêu dùng và cơ quan quản lý.

Hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng đối với nền kinh tế và xã hội. Đối với người tiêu dùng, việc sử dụng hàng giả có thể dẫn đến thiệt hại về tài sản, ảnh hưởng đến sức khỏe, thậm chí đe dọa tính mạng trong trường hợp sử dụng thuốc, thực phẩm hoặc hóa chất giả. Đối với doanh nghiệp, hàng giả làm giảm doanh thu, ảnh hưởng đến uy tín, giá trị thương hiệu và làm suy giảm khả năng cạnh tranh trên thị trường. Về phía Nhà nước, tình trạng hàng giả làm thất thu ngân sách, gây mất ổn định trật tự quản lý kinh tế, cản trở môi trường đầu tư, kinh doanh lành mạnh và ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi chính sách bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.

Chính vì những hậu quả đặc biệt nghiêm trọng này, pháp luật Việt Nam đã xây dựng hệ thống quy định khá chặt chẽ để phòng ngừa và xử lý hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả. Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm và loại hàng hóa bị làm giả, cá nhân hoặc pháp nhân thương mại có thể bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính, buộc thu hồi, tiêu hủy hàng hóa vi phạm, bồi thường thiệt hại hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự với mức hình phạt rất nghiêm khắc theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025). Do đó, việc nhận diện đúng dấu hiệu của tội sản xuất, buôn bán hàng giả có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với cơ quan tiến hành tố tụng mà còn giúp doanh nghiệp và người tiêu dùng chủ động phòng ngừa rủi ro, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

II. Khái niệm về tội sản xuất, buôn bán hàng giả

Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là một trong những tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025). Việc xác định đúng bản chất của hành vi, phân biệt với các hành vi vi phạm khác và nhận diện đầy đủ dấu hiệu pháp lý của hàng giả có ý nghĩa quan trọng trong việc áp dụng đúng chế tài cũng như bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân liên quan.

1. Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là gì?

Theo khoản 7 Điều 3 Nghị định 98/2020/NĐ-CP, “hàng giả” gồm:

  • Hàng hóa có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi của hàng hóa; hàng hóa không có giá trị sử dụng, công dụng hoặc có giá trị sử dụng, công dụng không đúng so với giá trị sử dụng, công dụng đã công bố hoặc đăng ký;
  • Hàng hóa có ít nhất một trong các chỉ tiêu chất lượng hoặc đặc tính kỹ thuật cơ bản hoặc định lượng chất chính tạo nên giá trị sử dụng, công dụng của hàng hóa chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với mức tối thiểu quy định tại quy chuẩn kỹ thuật hoặc tiêu chuẩn chất lượng đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa;
  • Thuốc giả theo quy định tại khoản 33 Điều 2 của Luật Dược năm 2016 và dược liệu giả theo quy định tại khoản 34 Điều 2 của Luật Dược năm 2016;
  • Thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật không có hoạt chất; không có đủ loại hoạt chất đã đăng ký; có hoạt chất khác với hoạt chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa; có ít nhất một trong các hàm lượng hoạt chất chỉ đạt từ 70% trở xuống so với mức tối thiểu quy định tại quy chuẩn kỹ thuật hoặc tiêu chuẩn chất lượng đã đăng ký, công bố áp dụng;
  • Hàng hóa có nhãn hàng hóa hoặc bao bì hàng hóa ghi chỉ dẫn giả mạo tên, địa chỉ tổ chức, cá nhân sản xuất hoặc nhập khẩu, phân phối hàng hóa; giả mạo mã số đăng ký lưu hành, mã số công bố, mã số mã vạch của hàng hóa hoặc giả mạo bao bì hàng hóa của tổ chức, cá nhân khác; giả mạo về nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa hoặc nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp hàng hóa;
  • Tem, nhãn, bao bì hàng hóa giả.

Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là hành vi của cá nhân hoặc pháp nhân thương mại thực hiện việc sản xuất hoặc đưa hàng giả vào lưu thông nhằm mục đích kinh doanh, thu lợi bất chính và đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025.

Trong đó:

  • Sản xuất hàng giả là việc trực tiếp tạo ra sản phẩm giả hoặc tổ chức việc gia công, chế biến, đóng gói hàng hóa giả dưới bất kỳ hình thức nào.
  • Buôn bán hàng giả là hành vi mua, bán, phân phối, vận chuyển, tàng trữ để bán hoặc đưa hàng giả vào lưu thông trên thị trường.

Tùy theo tính chất của hàng giả (hàng giả thông thường, hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật...), người thực hiện hành vi có thể bị truy cứu theo các điều luật khác nhau của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025.

Để bị truy cứu trách nhiệm hình sự, hành vi phải đáp ứng đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật, không phải mọi trường hợp sản xuất hoặc kinh doanh hàng hóa có sai phạm đều mặc nhiên cấu thành tội sản xuất, buôn bán hàng giả.

2. Phân biệt hàng giả với hàng nhái, hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và hàng kém chất lượng

Trên thực tế, các khái niệm này thường bị sử dụng lẫn nhau nhưng về mặt pháp lý có sự khác biệt rõ ràng.

  • Hàng giả là hàng hóa đáp ứng các dấu hiệu được quy định trong pháp luật về thương mại và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, chẳng hạn như giả về công dụng, giả về chất lượng, giả về nguồn gốc, xuất xứ hoặc giả mạo nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa. Đây là đối tượng trực tiếp của các tội danh về sản xuất, buôn bán hàng giả.
  • Hàng nhái thường là hàng hóa được thiết kế có hình thức, kiểu dáng hoặc cách trình bày tương tự sản phẩm nổi tiếng nhằm gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng nhưng chưa chắc đã đáp ứng đầy đủ dấu hiệu pháp lý của hàng giả. Tùy từng trường hợp, hành vi này có thể bị xử lý theo pháp luật về cạnh tranh hoặc sở hữu trí tuệ.
  • Hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ là hàng hóa có hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, sáng chế, quyền tác giả hoặc các đối tượng sở hữu trí tuệ khác theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ. Không phải mọi hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đều là hàng giả theo nghĩa của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025. 
  • Hàng kém chất lượng là hàng hóa không đạt tiêu chuẩn chất lượng đã công bố hoặc quy chuẩn kỹ thuật áp dụng. Tuy nhiên, nếu không có yếu tố cố ý giả mạo về bản chất, công dụng hoặc nguồn gốc thì chưa đủ căn cứ để xác định là hàng giả.

Việc phân biệt đúng các khái niệm này có ý nghĩa quan trọng vì mỗi hành vi sẽ chịu chế tài pháp lý khác nhau về hành chính, dân sự hoặc hình sự.

3. Những hành vi nào dễ bị nhầm lẫn với tội sản xuất, buôn bán hàng giả?

Trong hoạt động kinh doanh, nhiều hành vi có dấu hiệu vi phạm nhưng không phải trường hợp nào cũng cấu thành tội sản xuất, buôn bán hàng giả.

Một số hành vi thường dễ bị nhầm lẫn gồm:

  • Kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ;
  • Ghi nhãn hàng hóa không đúng quy định;
  • Vi phạm quy định về chất lượng sản phẩm, hàng hóa;
  • Xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu hoặc kiểu dáng công nghiệp;
  • Quảng cáo sai sự thật về công dụng của sản phẩm;
  • Kinh doanh hàng nhập lậu hoặc hàng hóa không có hóa đơn, chứng từ hợp pháp.

Các hành vi trên có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị xử lý theo các quy định chuyên ngành khác. Chỉ khi có đầy đủ căn cứ chứng minh hàng hóa là hàng giả theo quy định của pháp luật và người thực hiện đáp ứng các dấu hiệu cấu thành tội phạm thì mới có cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự về tội sản xuất, buôn bán hàng giả. Vì vậy, việc đánh giá chính xác bản chất của hàng hóa, mục đích của người thực hiện và hậu quả xảy ra là yếu tố quyết định trong quá trình xử lý vụ việc.

III. Quy định của pháp luật về tội sản xuất, buôn bán hàng giả

Nhằm bảo vệ trật tự quản lý kinh tế, quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng cũng như hoạt động sản xuất, kinh doanh chân chính, pháp luật Việt Nam quy định nhiều chế tài nghiêm khắc đối với tội sản xuất, buôn bán hàng giả. Tùy theo tính chất của hàng giả, giá trị hàng hóa, hậu quả gây ra và mức độ nguy hiểm của hành vi, người vi phạm có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025). Đồng thời, người bị thiệt hại cũng được pháp luật bảo đảm quyền yêu cầu bồi thường và các cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm điều tra, xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm.

1. Người phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả bị xử lý như thế nào?

Tùy thuộc vào loại hàng giả, pháp luật quy định các tội danh khác nhau trong Chương XVIII Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025 bao gồm:

  • Điều 192: Tội sản xuất, buôn bán hàng giả;
  • Điều 193: Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm;
  • Điều 194: Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh;
  • Điều 195: Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, giống vật nuôi;
  • Điều 196: Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc bảo vệ thực vật và một số vật tư nông nghiệp khác (đối với các trường hợp thuộc phạm vi điều luật).

Đối với Điều 192 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025, người phạm tội có thể bị:

  • Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng ;
  • Phạt tù từ 01 năm đến 05 năm ở khung cơ bản;
  • Phạt tù đến 15 năm nếu thuộc các trường hợp định khung tăng nặng.

Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị:

  • Phạt tiền bổ sung;
  • Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định;
  • Tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo quy định của Bộ luật Hình sự.

Đối với pháp nhân thương mại, nếu đủ điều kiện chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 75 Bộ luật Hình sự năm 2015, pháp nhân có thể bị:

  • Phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng;
  • Đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc vĩnh viễn;
  • Cấm kinh doanh, cấm huy động vốn hoặc áp dụng các hình phạt bổ sung khác theo quy định của pháp luật.

2. Những trường hợp làm tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với tội sản xuất, buôn bán hàng giả

Các điều luật về tội sản xuất, buôn bán hàng giả trong Bộ luật Hình sự đều quy định nhiều tình tiết định khung tăng nặng nhằm xử lý nghiêm đối với những hành vi có mức độ nguy hiểm cao hơn.

Căn cứ Điều 192 Bộ luật Hình sự năm 2015, trách nhiệm hình sự sẽ nặng hơn khi người phạm tội thuộc một trong các trường hợp như:

  • Có tổ chức;
  • Có tính chất chuyên nghiệp;
  • Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
  • Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
  • Buôn bán qua biên giới;
  • Thu lợi bất chính với số tiền lớn;
  • Gây thiệt hại lớn về tài sản;
  • Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
  • Tái phạm nguy hiểm.

Đối với các loại hàng giả đặc biệt như thuốc chữa bệnh, thực phẩm hoặc hàng hóa ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người, nếu hành vi làm chết người, gây thương tích nghiêm trọng hoặc gây thiệt hại đặc biệt lớn thì người phạm tội có thể phải chịu mức hình phạt cao nhất theo các điều luật tương ứng, thậm chí lên đến tù chung thân đối với một số tội danh.

Việc xác định đúng các tình tiết tăng nặng có ý nghĩa quyết định trong việc lựa chọn khung hình phạt và mức hình phạt cụ thể đối với người phạm tội.

3. Người bị thiệt hại do tội sản xuất, buôn bán hàng giả có những quyền gì?

Người tiêu dùng, doanh nghiệp hoặc tổ chức bị thiệt hại bởi tội sản xuất, buôn bán hàng giả có nhiều quyền được pháp luật bảo vệ.

Theo Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015, người nào có hành vi xâm phạm tài sản, sức khỏe, tính mạng, danh dự, uy tín hoặc quyền, lợi ích hợp pháp của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Bên cạnh đó, theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, người bị thiệt hại có quyền:

  • Trình báo, tố giác hành vi phạm tội đến cơ quan có thẩm quyền;
  • Cung cấp chứng cứ, tài liệu liên quan;
  • Đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình;
  • Yêu cầu bồi thường thiệt hại trong vụ án hình sự;
  • Tham gia tố tụng với tư cách người bị hại theo quy định của pháp luật;
  • Khiếu nại các quyết định, hành vi tố tụng nếu cho rằng quyền lợi của mình bị ảnh hưởng.

Đối với doanh nghiệp là chủ sở hữu nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp hoặc quyền sở hữu trí tuệ bị xâm phạm, ngoài việc yêu cầu xử lý hình sự, còn có quyền áp dụng các biện pháp dân sự và hành chính để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ theo Luật Sở hữu trí tuệ.

4. Cơ quan nào có thẩm quyền điều tra, xử lý tội sản xuất, buôn bán hàng giả?

Do tội sản xuất, buôn bán hàng giả là tội phạm hình sự nên việc điều tra, truy tố và xét xử được thực hiện theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tùy từng vụ việc, các cơ quan có thẩm quyền bao gồm:

  • Cơ quan Cảnh sát điều tra thuộc Công an nhân dân là cơ quan chủ yếu tiến hành điều tra các vụ án về sản xuất, buôn bán hàng giả theo quy định của Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015.
  • Trong một số trường hợp thuộc thẩm quyền theo luật định, Cơ quan điều tra của Bộ Quốc phòng cũng có thể tiến hành điều tra nếu vụ việc liên quan đến lĩnh vực quốc phòng.
  • Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động điều tra và quyết định truy tố người phạm tội trước Tòa án.
  • Tòa án nhân dân có thẩm quyền xét xử và quyết định hình phạt đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội.

Ngoài các cơ quan tiến hành tố tụng, nhiều cơ quan quản lý nhà nước cũng tham gia phát hiện và chuyển hồ sơ vụ việc có dấu hiệu tội phạm như:

  • Lực lượng Quản lý thị trường;
  • Công an kinh tế;
  • Hải quan;
  • Thanh tra chuyên ngành;
  • Ủy ban nhân dân và các cơ quan quản lý chuyên ngành khác.

Khi phát hiện hành vi có dấu hiệu của tội sản xuất, buôn bán hàng giả, các cơ quan này có trách nhiệm lập hồ sơ, thu giữ tang vật (nếu thuộc thẩm quyền) và chuyển vụ việc đến cơ quan điều tra để xử lý theo đúng quy định của pháp luật.

IV. Giải đáp các thắc mắc thường gặp về tội sản xuất, buôn bán hàng giả

Trong thực tiễn áp dụng pháp luật, nhiều cá nhân, doanh nghiệp và người tiêu dùng vẫn còn băn khoăn về việc xác định hành vi nào đủ yếu tố cấu thành tội sản xuất, buôn bán hàng giả, trách nhiệm pháp lý của các chủ thể liên quan cũng như cách bảo vệ quyền lợi khi bị ảnh hưởng bởi hàng giả. Dưới đây là những vấn đề thường gặp cùng với phân tích theo quy định của pháp luật hiện hành.

1. Sản xuất hàng giả nhưng chưa bán ra thị trường có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?

Sản xuất hàng giả nhưng chưa bán ra thị trường có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Các tội danh về sản xuất, buôn bán hàng giả quy định tại Điều 192 đến Điều 195 Bộ luật Hình sự năm 2015 đều xử lý đối với hành vi sản xuất hoặc buôn bán hàng giả. Do đó, việc hàng giả chưa được tiêu thụ trên thị trường không đồng nghĩa với việc người thực hiện đương nhiên không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Nếu cơ quan tiến hành tố tụng chứng minh được: Người phạm tội đã hoàn thành hành vi sản xuất hàng giả; hàng hóa đã được tạo ra đáp ứng dấu hiệu của hàng giả theo quy định của pháp luật; giá trị hàng giả hoặc các dấu hiệu định lượng khác đã đạt mức truy cứu trách nhiệm hình sự,... thì người thực hiện vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự mặc dù hàng hóa chưa được bán ra.

Trường hợp chưa đủ căn cứ xử lý hình sự, cá nhân hoặc tổ chức vẫn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính, buộc tiêu hủy hàng giả, tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định của pháp luật.

2. Bán hàng giả nhưng không biết là hàng giả có phải chịu trách nhiệm hình sự không?

Không phải mọi trường hợp đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Theo nguyên tắc của Bộ luật Hình sự năm 2015, trách nhiệm hình sự chỉ đặt ra khi người thực hiện hành vi có lỗi theo quy định của pháp luật.

Nếu người bán thực sự không biết và cũng không thể biết hàng hóa là hàng giả sau khi đã thực hiện đầy đủ việc kiểm tra nguồn gốc, hóa đơn, chứng từ và xuất xứ thì có thể không đủ căn cứ xác định yếu tố lỗi cố ý để truy cứu trách nhiệm hình sự.

Ngược lại, nếu người bán: Biết rõ hàng hóa là hàng giả; có căn cứ để nhận biết nhưng vẫn cố ý kinh doanh; tham gia vào chuỗi phân phối hàng giả nhằm thu lợi,...thì vẫn có thể bị truy cứu về tội buôn bán hàng giả theo các điều luật tương ứng của Bộ luật Hình sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, cơ quan điều tra sẽ xem xét toàn diện các chứng cứ về nguồn gốc hàng hóa, quá trình giao dịch, nhận thức chủ quan của người bán và các tài liệu liên quan để xác định trách nhiệm pháp lý.

3. Kinh doanh hàng giả trên sàn thương mại điện tử có bị xử lý về tội sản xuất, buôn bán hàng giả không?

Pháp luật hiện hành không phân biệt hình thức kinh doanh truyền thống hay kinh doanh trên môi trường mạng khi xem xét trách nhiệm hình sự.

Do đó, nếu cá nhân hoặc tổ chức sử dụng: Sàn thương mại điện tử; website bán hàng; mạng xã hội; livestream bán hàng; các nền tảng trực tuyến khác;.. để tiêu thụ hàng giả thì vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu hành vi đáp ứng đầy đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm theo Điều 192 đến Điều 195 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Ngoài trách nhiệm hình sự, người vi phạm còn có thể bị:

  • Gỡ bỏ gian hàng;
  • Khóa tài khoản bán hàng;
  • Buộc thu hồi sản phẩm;
  • Bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng hoặc chủ thể quyền sở hữu trí tuệ;
  • Chịu các chế tài hành chính theo quy định về thương mại điện tử, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và quản lý thị trường.

4. Mua phải hàng giả thì người tiêu dùng cần làm gì để bảo vệ quyền lợi?

Khi phát hiện đã mua phải hàng giả, người tiêu dùng nên nhanh chóng thực hiện các biện pháp sau:

  • Ngừng sử dụng sản phẩm để tránh phát sinh thiệt hại;
  • Lưu giữ đầy đủ hàng hóa, hóa đơn, chứng từ, thông tin giao dịch, hình ảnh sản phẩm và các tài liệu liên quan;
  • Yêu cầu người bán hoặc đơn vị cung cấp giải quyết theo chính sách bảo hành, đổi trả hoặc hoàn tiền (nếu có);
  • Gửi phản ánh hoặc tố giác đến cơ quan quản lý thị trường, cơ quan công an hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

Trường hợp phát sinh thiệt hại về tài sản, sức khỏe hoặc quyền lợi hợp pháp khác thì có quyền yêu cầu bồi thường theo Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Nếu vụ việc có dấu hiệu của tội sản xuất, buôn bán hàng giả, người tiêu dùng cũng có quyền cung cấp chứng cứ cho cơ quan điều tra để phục vụ việc xử lý hình sự đối với người vi phạm.

5. Doanh nghiệp bị làm giả sản phẩm cần thực hiện những biện pháp pháp lý nào để bảo vệ thương hiệu?

Khi phát hiện sản phẩm của mình bị làm giả, doanh nghiệp cần chủ động triển khai đồng thời nhiều biện pháp pháp lý nhằm hạn chế thiệt hại và bảo vệ uy tín thương hiệu.

Trước hết, doanh nghiệp cần:

  • Thu thập mẫu hàng giả và các chứng cứ chứng minh hành vi vi phạm;
  • Xác minh nguồn gốc, kênh phân phối và đối tượng thực hiện hành vi;
  • Gửi yêu cầu đến cơ quan quản lý thị trường, cơ quan công an hoặc cơ quan có thẩm quyền để kiểm tra, xử lý.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp có thể:

  • Yêu cầu xử lý hành chính;
  • Đề nghị khởi tố vụ án hình sự nếu có dấu hiệu của tội sản xuất, buôn bán hàng giả;
  • Khởi kiện dân sự yêu cầu bồi thường thiệt hại;
  • Áp dụng các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ theo Luật Sở hữu trí tuệ nếu hành vi đồng thời xâm phạm nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp hoặc các đối tượng sở hữu trí tuệ khác.

Ngoài các biện pháp pháp lý, doanh nghiệp cũng nên tăng cường đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, sử dụng tem chống giả, công nghệ truy xuất nguồn gốc và thường xuyên giám sát thị trường nhằm kịp thời phát hiện các hành vi vi phạm.

V. Vì sao nên lựa chọn NPLaw tư vấn và bảo vệ quyền lợi trong các vụ việc liên quan đến tội sản xuất, buôn bán hàng giả?

Các vụ việc liên quan đến tội sản xuất, buôn bán hàng giả thường có tính chất phức tạp, liên quan đồng thời đến pháp luật hình sự, dân sự, sở hữu trí tuệ, thương mại và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Việc đánh giá đúng dấu hiệu tội phạm, thu thập chứng cứ, xác định thiệt hại và lựa chọn phương án xử lý phù hợp đòi hỏi sự hỗ trợ của luật sư có chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn. 

Với đội ngũ luật sư am hiểu pháp luật về hình sự và sở hữu trí tuệ, NPLaw hỗ trợ khách hàng tư vấn căn cứ pháp lý, đánh giá dấu hiệu vi phạm, tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, đồng thời đại diện làm việc với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để yêu cầu xử lý hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả, yêu cầu bồi thường thiệt hại và bảo vệ uy tín, thương hiệu của doanh nghiệp một cách toàn diện.

Trên đây là các thông tin mang tính tham khảo, Quý khách hàng cần tư vấn chi tiết về trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ cho Hãng luật NPLaw để được tư vấn ngay.