Trong hoạt động nghiên cứu và phát triển, các cải tiến sản phẩm có thể mang lại giá trị kinh tế lớn nhưng cũng dễ phát sinh tranh chấp về quyền sở hữu. Vậy quyền sở hữu đối với các cải tiến sản phẩm được xác định như thế nào? Bài viết dưới đây sẽ phân tích quy định pháp luật hiện hành và giải đáp những vấn đề pháp lý thường gặp liên quan đến nội dung này.

I. Tình hình đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cho các giải pháp cải tiến sản phẩm tại Việt Nam có xu hướng biến động ra sao trong những năm gần đây?

Trong những năm gần đây, số lượng đơn đăng ký bảo hộ sáng chế, giải pháp hữu ích và các đối tượng sở hữu trí tuệ liên quan đến cải tiến sản phẩm tại Việt Nam có xu hướng gia tăng, phản ánh sự quan tâm ngày càng lớn đến hoạt động đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, nhiều hồ sơ vẫn chưa đáp ứng điều kiện bảo hộ hoặc phát sinh tranh chấp về quyền sở hữu đối với các cải tiến sản phẩm, cho thấy việc xác lập quyền sở hữu đối với các cải tiến sản phẩm từ sớm ngày càng trở nên cần thiết nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể sáng tạo. 

II. Khái niệm và nhận diện về quyền sở hữu đối với các cải tiến sản phẩm

Để xác định đúng chủ thể có quyền đối với một cải tiến sản phẩm, trước hết cần hiểu rõ khái niệm, căn cứ xác lập quyền và cách nhận diện các trường hợp phát sinh quyền sở hữu theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ và các thỏa thuận giữa các bên. 

1. Quyền sở hữu đối với các cải tiến sản phẩm được hiểu như thế nào?

Pháp luật Việt Nam hiện hành không đưa ra định nghĩa riêng về "quyền sở hữu đối với các cải tiến sản phẩm". Tuy nhiên, có thể hiểu đây là quyền của tổ chức, cá nhân đối với các kết quả cải tiến phát sinh từ hoạt động nghiên cứu, phát triển hoặc nâng cấp sản phẩm, nếu đáp ứng điều kiện bảo hộ theo quy định của pháp luật hoặc được xác lập thông qua hợp đồng, quan hệ lao động hoặc các căn cứ pháp lý khác.

Tùy từng trường hợp, cải tiến sản phẩm có thể được bảo hộ dưới các hình thức như sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, quyền tác giả đối với phần mềm hoặc bí mật kinh doanh theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ 2005. Quyền sở hữu đối với các cải tiến sản phẩm sẽ được xác định dựa trên đối tượng được bảo hộ, chủ thể tạo ra cải tiến và các thỏa thuận hợp pháp giữa các bên. Việc xác định đúng quyền sở hữu đối với các cải tiến sản phẩm có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu cũng như hạn chế các tranh chấp phát sinh trong quá trình khai thác, thương mại hóa kết quả cải tiến.

2. Quyền tác giả đối với phần mềm/mã nguồn cải tiến được nhận diện và phân định quyền sở hữu dựa trên những căn cứ nào?

Theo điểm m khoản 1 Điều 14 (được sửa đổi bởi Khoản 5 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2009) và khoản 1 Điều 22 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (được sửa đổi bởi Khoản 9 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2025), chương trình máy tính là đối tượng được bảo hộ quyền tác giả như tác phẩm văn học, không phụ thuộc vào việc được thể hiện dưới dạng mã nguồn (source code) hay mã máy (object code). Chương trình máy tính được hiểu là tập hợp các chỉ dẫn được thể hiện dưới dạng lệnh, mã, lược đồ hoặc hình thức khác, khi gắn vào phương tiện hoặc thiết bị được vận hành bằng ngôn ngữ lập trình thì có khả năng làm cho máy tính hoặc thiết bị thực hiện một công việc hoặc đạt được kết quả cụ thể.

Việc nhận diện và phân định quyền sở hữu đối với phần mềm hoặc mã nguồn cải tiến được xác định trên các căn cứ chủ yếu sau:

  • Nguồn gốc hình thành chương trình máy tính, bao gồm việc phần mềm được tạo ra độc lập, theo nhiệm vụ được giao hoặc theo hợp đồng;
  • Chủ thể trực tiếp sáng tạo phần mềm hoặc phần cải tiến;
  • Hợp đồng lao động, hợp đồng thuê sáng tạo, hợp đồng chuyển giao quyền hoặc các thỏa thuận hợp pháp khác giữa các bên về quyền sở hữu đối với kết quả cải tiến.

Theo Điều 39 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi bổ sung 2022, 2025), nếu chương trình máy tính được tạo ra theo nhiệm vụ hoặc hợp đồng thì quyền tài sản thường thuộc tổ chức, cá nhân giao nhiệm vụ hoặc giao kết hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Đồng thời, khoản 1 Điều 22 (được sửa đổi bởi Khoản 6 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi 2022) Luật Sở hữu trí tuệ 2005 cho phép tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả thỏa thuận bằng văn bản về việc sửa chữa, nâng cấp chương trình máy tính.

Do đó, để tránh tranh chấp, các bên cần quy định rõ quyền sở hữu đối với phần mềm hoặc mã nguồn cải tiến trong hợp đồng lao động, hợp đồng dịch vụ hoặc hợp đồng phát triển phần mềm.

3. Việc một bên tự ý cải tiến sản phẩm mà không có sự đồng ý bằng văn bản của chủ sở hữu gốc được nhận diện là hành vi gì?

Việc tự ý cải tiến sản phẩm hoặc chương trình máy tính đang được bảo hộ không đương nhiên là hành vi vi phạm pháp luật. Trường hợp việc cải tiến thuộc phạm vi quyền làm tác phẩm phái sinh hoặc các quyền tài sản khác của chủ sở hữu quyền tác giả mà không được phép thì có thể bị xác định là hành vi xâm phạm quyền tác giả.

Theo điểm a khoản 1 Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (được sửa đổi bởi Khoản 5 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022), quyền làm tác phẩm phái sinh là quyền tài sản của chủ sở hữu quyền tác giả. Đồng thời, khoản 2 Điều 20 quy định tổ chức, cá nhân khai thác quyền này phải được sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả, trừ trường hợp luật có quy định khác. Nếu tự ý thực hiện mà không được phép thì có thể bị coi là xâm phạm quyền tài sản theo khoản 2 Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2022,2025).

Tuy nhiên, nếu hợp đồng, giấy phép sử dụng hoặc giấy phép mã nguồn mở đã cho phép sửa đổi, nâng cấp hoặc cải tiến thì việc thực hiện trong phạm vi được cấp phép sẽ không bị coi là hành vi xâm phạm quyền tác giả.

III. Quy định pháp luật hiện hành về quyền sở hữu đối với các cải tiến sản phẩm

Pháp luật Việt Nam quy định tương đối đầy đủ về việc xác lập, bảo hộ và bảo vệ quyền sở hữu đối với các cải tiến sản phẩm. Tùy từng đối tượng sở hữu trí tuệ và từng trường hợp cụ thể, quyền và nghĩa vụ của các bên sẽ được xác định theo quy định của pháp luật và thỏa thuận hợp pháp.

1. Tỷ lệ phân chia lợi nhuận hoặc mức thù lao tối thiểu mà doanh nghiệp phải trả cho tác giả của cải tiến sản phẩm được luật quy định ra sao?

Pháp luật không quy định một tỷ lệ phân chia lợi nhuận hoặc mức thù lao tối thiểu áp dụng chung đối với mọi cải tiến sản phẩm mà phụ thuộc vào loại đối tượng được bảo hộ và thỏa thuận giữa các bên.

Đối với sáng kiến, nếu không có thỏa thuận, khoản 2 điều 10 của Điều lệ Sáng kiến (Ban hành kèm theo Nghị định số 13/2012/NĐ-CP ngày 02 tháng 3 năm 2012 của Chính phủ) quy định tác giả được hưởng tối thiểu 7% tiền làm lợi từ việc áp dụng sáng kiến trong 3 năm đầu hoặc tối thiểu 15% giá chuyển giao đối với mỗi lần chuyển giao sáng kiến.

Đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp hoặc thiết kế bố trí, Điều 135 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (được sửa đổi, bổ sung các năm 2022,2025) quy định chủ sở hữu có nghĩa vụ trả thù lao cho tác giả theo thỏa thuận.

2. Chế tài xử lý vi phạm hành chính và mức bồi thường thiệt hại dân sự khi một bên tự ý cải tiến và thương mại hóa sản phẩm bảo hộ của bên khác được quy định ra sao?

Việc tự ý cải tiến, sản xuất, kinh doanh hoặc thương mại hóa sản phẩm đang được bảo hộ mà không có sự cho phép của chủ sở hữu có thể bị xử lý nếu hành vi đó xâm phạm quyền đối với sáng chế, giải pháp hữu ích hoặc thiết kế bố trí.

Về xử phạt vi phạm hành chính, theo Điều 10 Nghị định 99/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung), hành vi buôn bán, chào hàng, vận chuyển, tàng trữ, trưng bày để bán hoặc khai thác công dụng sản phẩm xâm phạm quyền đối với sáng chế, giải pháp hữu ích có thể bị phạt từ 500.000 đồng đến 250 triệu đồng tùy giá trị hàng hóa vi phạm (khoản 1 đến khoản 12 Điều 10). Đối với hành vi sản xuất, áp dụng quy trình xâm phạm, nhập khẩu sản phẩm xâm phạm hoặc thuê người khác thực hiện hành vi vi phạm, mức phạt bằng 1,2 lần mức phạt tương ứng nhưng tối đa không quá 250 triệu đồng (khoản 13 Điều 10).

Ngoài phạt tiền, bên vi phạm có thể bị đình chỉ hoạt động sản xuất, kinh doanh từ 01 tháng đến 03 tháng (khoản 14 Điều 10, được sửa đổi bởi Điểm b Khoản 9 Điều 1 Nghị định 126/2021/NĐ-CP ) và bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả như buộc loại bỏ, tiêu hủy yếu tố vi phạm, tiêu hủy tang vật vi phạm, nộp lại số lợi bất hợp pháp hoặc trả khoản tiền tương đương giá chuyển giao quyền sử dụng đối tượng bị xâm phạm (khoản 15 Điều 10, được bổ sung bởi Điểm d Khoản 9 Điều 1 Nghị định 46/2024/NĐ-CP).

Về trách nhiệm dân sự, căn cứ Điều 204 và Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ (sửa đổi, bổ sung 2022,2025), chủ sở hữu quyền có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm gây ra. Mức bồi thường được xác định dựa trên thiệt hại thực tế, khoản lợi nhuận mà bên vi phạm thu được hoặc giá chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ. Trường hợp không xác định được thiệt hại cụ thể, Tòa án quyết định mức bồi thường nhưng không quá 500 triệu đồng (khoản 1 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ). Bên vi phạm còn có thể phải thanh toán các chi phí hợp lý như chi phí luật sư để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể quyền.

3. Quy định về thời hạn bảo hộ độc quyền đối với Bằng độc quyền giải pháp hữu ích cho sản phẩm cải tiến là bao nhiêu năm?

Theo khoản 2 Điều 93 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (được bổ sung bởi Khoản 29 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022), Bằng độc quyền giải pháp hữu ích có thời hạn bảo hộ là 10 năm kể từ ngày nộp đơn và không được gia hạn.

Trong thời hạn bảo hộ, chủ sở hữu bằng độc quyền có quyền ngăn cấm người khác sử dụng, sản xuất, kinh doanh, khai thác thương mại giải pháp hữu ích nếu không được chủ sở hữu cho phép. Đối với sản phẩm cải tiến, thời hạn bảo hộ chỉ được áp dụng khi giải pháp đáp ứng điều kiện bảo hộ và được Cục Sở hữu trí tuệ cấp Bằng độc quyền giải pháp hữu ích.

Sau khi hết thời hạn 10 năm, giải pháp hữu ích trở thành tài sản thuộc phạm vi công cộng và mọi tổ chức, cá nhân có thể khai thác mà không cần sự đồng ý của chủ sở hữu.

IV. Giải đáp các thắc mắc thường gặp liên quan đến quyền sở hữu đối với các cải tiến sản phẩm

Trong quá trình nghiên cứu, phát triển và thương mại hóa sản phẩm cải tiến, nhiều cá nhân, doanh nghiệp thường quan tâm đến quyền sở hữu đối với các cải tiến sản phẩm và các quy định pháp luật liên quan. Dưới đây là một số câu hỏi thường gặp về quyền sở hữu đối với các cải tiến sản phẩm. 

1. Là kỹ sư R&D, tôi tự bỏ thời gian ở nhà để nghiên cứu ra bản cải tiến cho sản phẩm của công ty thì quyền sở hữu thuộc về kỹ sư R&D hay công ty?

Quyền đăng ký bảo hộ cải tiến sản phẩm phụ thuộc vào người tạo ra và người đầu tư kinh phí, phương tiện để tạo ra cải tiến. Theo Điều 86 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (được sửa đổi bởi Khoản 25 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022), nếu kỹ sư R&D tự nghiên cứu bằng công sức, chi phí của mình thì có quyền đăng ký bảo hộ.

Tuy nhiên, nếu công ty giao nhiệm vụ, đầu tư kinh phí, phương tiện hoặc thuê kỹ sư thực hiện nghiên cứu thì công ty có quyền đăng ký, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Vì vậy, việc nghiên cứu tại nhà không phải là căn cứ duy nhất để xác định quyền sở hữu.

2. Công ty thuê một đơn vị bên ngoài gia công sản phẩm, họ tự ý thay đổi cấu trúc để sản phẩm tốt hơn thì họ có quyền sở hữu thiết kế cải tiến đó không?

Quyền sở hữu đối với thiết kế cải tiến phụ thuộc vào nguồn gốc tạo ra cải tiến, thỏa thuận trong hợp đồng và chi phí đầu tư. Theo Điều 86 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (được sửa đổi bởi khoản 25 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022), nếu đơn vị gia công tự tạo ra cải tiến bằng công sức, chi phí của mình thì có thể có quyền đăng ký bảo hộ, trừ trường hợp hợp đồng quy định khác.

Trường hợp công ty thuê gia công cung cấp yêu cầu kỹ thuật, tài liệu, chi phí hoặc giao nhiệm vụ nghiên cứu thì công ty có thể là chủ thể có quyền đăng ký đối với cải tiến đó. Do đó, các bên nên thỏa thuận rõ quyền sở hữu đối với các cải tiến sản phẩm và quyền sở hữu trí tuệ trong hợp đồng gia công để hạn chế tranh chấp phát sinh. 

3. Nếu tôi mua một sản phẩm máy móc về, tự cải tiến lại để dùng trong nội bộ nhà xưởng thì có bị coi là vi phạm luật sở hữu trí tuệ không?

Việc mua máy móc hợp pháp và tự cải tiến để sử dụng nội bộ không mặc nhiên bị xem là vi phạm quyền sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, nếu việc cải tiến làm thay đổi, sao chép hoặc sử dụng các yếu tố kỹ thuật đang được bảo hộ của chủ sở hữu sáng chế, giải pháp hữu ích mà không được phép thì có thể bị coi là xâm phạm quyền sở hữu đối với các cải tiến sản phẩm hoặc các quyền sở hữu trí tuệ liên quan.

Trường hợp chỉ cải tiến nhằm mục đích sử dụng riêng, không sản xuất, kinh doanh hoặc thương mại hóa sản phẩm cải tiến thì rủi ro vi phạm thường thấp hơn, nhưng vẫn cần xem xét phạm vi bảo hộ của đối tượng sở hữu trí tuệ liên quan để bảo đảm không xâm phạm quyền sở hữu đối với các cải tiến sản phẩm của chủ thể khác. 

4. Hợp đồng chuyển giao công nghệ không nói rõ về quyền cải tiến, vậy sau này khi nâng cấp dây chuyền thì quyền sở hữu thuộc về ai?

Nếu hợp đồng chuyển giao công nghệ không quy định rõ về quyền sở hữu đối với các cải tiến sản phẩm, quyền sở hữu sẽ được xác định dựa trên người tạo ra cải tiến, nguồn lực đầu tư và thỏa thuận giữa các bên. 

Trường hợp bên nhận chuyển giao tự nghiên cứu, sử dụng nguồn lực của mình để cải tiến thì có thể có quyền đăng ký bảo hộ đối với cải tiến đó theo Điều 86 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2022,2025). Ngược lại, nếu cải tiến do bên chuyển giao tạo ra hoặc sử dụng nguồn lực của bên chuyển giao thì quyền có thể thuộc về bên chuyển giao.

Do đó, các bên nên quy định rõ trong hợp đồng về quyền sở hữu, quyền khai thác và quyền đăng ký bảo hộ đối với các cải tiến phát sinh trong quá trình chuyển giao công nghệ để tránh tranh chấp.

5. Mức phạt tiền lớn nhất đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu đối với các cải tiến sản phẩm có thể lên tới bao nhiêu?

Theo Điều 10 Nghị định 99/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung), hành vi xâm phạm quyền đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, thiết kế bố trí có thể bị phạt tiền tối đa 250 triệu đồng đối với cá nhân theo khoản 12 Điều 10 hoặc khoản 13 Điều 10 ( được bổ sung bởi Khoản 1 Điều 2 Nghị định 46/2024/NĐ-CP) đối với hành vi sản xuất, áp dụng quy trình, nhập khẩu sản phẩm xâm phạm.

Đối với tổ chức, mức phạt tiền tối đa có thể lên đến 500 triệu đồng theo khoản 2 Điều 3 Nghị định 99/2013/NĐ-CP. Ngoài ra, bên vi phạm còn có thể bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả như tiêu hủy hàng hóa vi phạm, loại bỏ yếu tố vi phạm hoặc nộp lại số lợi bất hợp pháp.

6. Có thể khởi kiện đòi lại quyền sở hữu cải tiến sản phẩm nếu cựu giám đốc kỹ thuật đem bí mật công nghệ sang thành lập công ty đối thủ?

Có thể khởi kiện nếu doanh nghiệp chứng minh được cựu giám đốc kỹ thuật đã chiếm đoạt, tiết lộ hoặc sử dụng trái phép bí mật kinh doanh, công nghệ thuộc quyền sở hữu của công ty để phục vụ cho đối thủ cạnh tranh.

Căn cứ Điều 127 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2022, 2025), hành vi bộc lộ, sử dụng bí mật kinh doanh không được phép của chủ sở hữu là hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Doanh nghiệp có thể yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm, bồi thường thiệt hại hoặc khởi kiện tại Tòa án để bảo vệ quyền lợi.

Tuy nhiên, nếu cải tiến do cựu giám đốc tự nghiên cứu bằng nguồn lực cá nhân và không thuộc quyền sở hữu của công ty thì việc yêu cầu chuyển giao quyền sở hữu sẽ cần xem xét thêm căn cứ pháp lý và thỏa thuận giữa các bên.

V. Đừng để công sức nghiên cứu R&D bị chiếm đoạt – Kết nối với NPLaw ngay hôm nay để xác lập quyền sở hữu cải tiến sản phẩm an toàn!

Các cải tiến sản phẩm là kết quả của quá trình nghiên cứu, đầu tư thời gian và nguồn lực của doanh nghiệp. Để bảo vệ quyền lợi và hạn chế tranh chấp, doanh nghiệp cần chủ động xác lập quyền sở hữu trí tuệ, xây dựng thỏa thuận rõ ràng với nhân sự, đối tác và kiểm soát việc khai thác công nghệ.

NPLaw cung cấp giải pháp tư vấn về xác lập quyền sở hữu đối với cải tiến sản phẩm, đăng ký bảo hộ sáng chế, giải pháp hữu ích, bảo vệ bí mật công nghệ và xử lý tranh chấp sở hữu trí tuệ, giúp doanh nghiệp bảo vệ giá trị R&D và khai thác hiệu quả tài sản trí tuệ. Hãy liên hệ NPLaw để được hỗ trợ pháp lý phù hợp.

Trên đây là các thông tin mang tính tham khảo, Quý khách hàng cần tư vấn chi tiết về trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ cho Hãng luật NPLaw để được tư vấn ngay.