NPLaw cung cấp những thông tin pháp lý cần lưu ý về trách nhiệm khi không báo cáo cơ quan y tế dự phòng khi tiếp nhận bệnh nhi thuộc các ca bệnh truyền nhiễm nhóm A, B.
I. Việc không báo cáo cơ quan y tế dự phòng khi tiếp nhận bệnh nhi thuộc các ca bệnh truyền nhiễm nhóm A, B có thể ảnh hưởng như thế nào đến công tác kiểm soát dịch bệnh?
Việc không báo cáo cơ quan y tế dự phòng khi tiếp nhận bệnh nhi thuộc các ca bệnh truyền nhiễm nhóm A, B không chỉ là vấn đề về thủ tục hành chính mà còn có thể ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng phát hiện, giám sát và kiểm soát sự lây lan của bệnh truyền nhiễm. Theo Điều 4 Luật Phòng bệnh 2025, phòng, chống bệnh truyền nhiễm phải bảo đảm nguyên tắc chủ động, tích cực, kịp thời, triệt để; trong đó giám sát bệnh truyền nhiễm là một trong những biện pháp chủ yếu. Luật cũng nghiêm cấm hành vi “che giấu, không khai báo hoặc khai báo không kịp thời các trường hợp mắc bệnh truyền nhiễm theo quy định của pháp luật” tại điểm c khoản 8 Điều 8 Luật này.
Đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, việc báo cáo giúp cơ quan y tế dự phòng tiếp nhận thông tin, xác minh ca bệnh, đánh giá nguy cơ, truy vết người tiếp xúc và triển khai các biện pháp phòng, chống dịch khi cần thiết. Đặc biệt, đối với một số bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, việc chậm báo cáo có thể làm mất thời gian vàng để triển khai các biện pháp kiểm soát nguồn lây. Do đó, không báo cáo cơ quan y tế dự phòng khi tiếp nhận bệnh nhi thuộc các ca bệnh truyền nhiễm nhóm A, B có thể làm gián đoạn hệ thống giám sát dịch tễ và trong trường hợp nghiêm trọng còn có thể dẫn đến trách nhiệm pháp lý đối với cá nhân, cơ sở có liên quan.
Nghĩa vụ báo cáo ca bệnh truyền nhiễm không chỉ nhằm hoàn thiện hồ sơ quản lý mà còn là một bộ phận của hệ thống giám sát và phòng, chống dịch bệnh. Vì vậy, cơ sở y tế cần đặc biệt chú trọng việc báo cáo đầy đủ và đúng thời hạn.
II. Khái quát về không báo cáo cơ quan y tế dự phòng khi tiếp nhận bệnh nhi thuộc các ca bệnh truyền nhiễm nhóm A, B
Để xác định chính xác trách nhiệm của cơ sở y tế, cần phân biệt bệnh truyền nhiễm nhóm A, B, trường hợp mắc bệnh và trường hợp nghi ngờ mắc bệnh.
1. Không báo cáo cơ quan y tế dự phòng khi tiếp nhận bệnh nhi thuộc các ca bệnh truyền nhiễm nhóm A, B được hiểu là gì?
Trước hết, cần hiểu khái niệm bệnh truyền nhiễm được quy định tại Khoản 5 Điều 2 Luật Phòng bệnh 2025: là bệnh lây truyền trực tiếp hoặc gián tiếp từ người sang người, từ động vật sang người hoặc qua môi trường, vật trung gian truyền bệnh do tác nhân gây bệnh truyền nhiễm gây ra. Căn cứ Khoản 1 Điều 15 Luật Phòng bệnh 2025 (được hướng dẫn bởi Điều 14, Điều 15 Thông tư 15/2026/TT-BYT), bệnh truyền nhiễm được phân loại thành các nhóm nguy cơ, trong đó:
- Bệnh truyền nhiễm nhóm A: Gồm các bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm có khả năng lây truyền rất nhanh, phát tán rộng và tỷ lệ tử vong cao hoặc chưa rõ tác nhân gây bệnh.
- Bệnh truyền nhiễm nhóm B: Gồm các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm có khả năng lây truyền nhanh và có thể gây tử vong.
Từ các căn cứ pháp lý trên, hành vi “không báo cáo cơ quan y tế dự phòng khi tiếp nhận bệnh nhi thuộc các ca bệnh truyền nhiễm nhóm A, B” được hiểu là trường hợp cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (hoặc người hành nghề) sau khi tiếp nhận, chẩn đoán, nghi ngờ hoặc xác định bệnh nhân là trẻ em mắc bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A hoặc nhóm B nhưng không thực hiện việc thông tin, báo cáo cho cơ quan y tế dự phòng có thẩm quyền theo đúng quy trình, nội dung và thời hạn pháp luật quy định.
Nghĩa vụ báo cáo này được áp dụng ngay khi phát hiện ca bệnh nghi ngờ hoặc xác định nhằm phục vụ công tác giám sát, khoanh vùng dịch tễ kịp thời; việc cơ sở y tế trì hoãn báo cáo với lý do chờ kết quả xét nghiệm khẳng định (nhất là đối với nhóm A) là không đúng với nguyên tắc phòng ngừa dịch bệnh.
2. Bệnh truyền nhiễm nhóm A và nhóm B được phân loại dựa trên những đặc điểm nào?
Theo khoản 1 Điều 15 Luật Phòng bệnh năm 2025 quy định bệnh truyền nhiễm được chia thành 04 nhóm: Nhóm A, B, C và Nhóm khác. Theo đó, nhóm A gồm các bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm, có khả năng lây truyền rất nhanh, phát tán rộng và tỷ lệ tử vong cao hoặc chưa rõ tác nhân gây bệnh. Danh mục có các bệnh như bại liệt, cúm A-H5N1, dịch hạch, đậu mùa, Ebola, Lassa, Marburg, sốt vàng, tả, viêm đường hô hấp cấp nặng do vi rút và các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm mới phát sinh chưa rõ tác nhân.
Nhóm B gồm các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm có khả năng lây truyền nhanh và có thể gây tử vong. Danh mục gồm nhiều bệnh như bạch hầu, cúm, ho gà, lao phổi, sốt xuất huyết Dengue, sốt rét, sởi, tay-chân-miệng, thủy đậu, thương hàn, uốn ván, viêm gan vi rút và viêm màng não do não mô cầu.
Kết luận lại, nhóm A có mức độ nguy hiểm đặc biệt cao, còn nhóm B là các bệnh nguy hiểm có khả năng lây truyền nhanh và có thể gây tử vong. Việc phân nhóm có ý nghĩa quan trọng trong xác định cơ chế giám sát và biện pháp phòng, chống dịch.
3. Việc tiếp nhận bệnh nhi thuộc ca bệnh truyền nhiễm nhóm A, B khác gì với trường hợp chỉ nghi ngờ mắc bệnh?
Pháp luật quy định phân biệt người mắc bệnh với người bị nghi ngờ mắc bệnh. Khoản 8 và khoản 11 Điều 2 Luật Phòng bệnh 2025 xác định người mắc bệnh là người bị nhiễm tác nhân gây bệnh và có biểu hiện triệu chứng; người bị nghi ngờ mắc bệnh là người tiếp xúc hoặc có biểu hiện triệu chứng bệnh truyền nhiễm nhưng chưa rõ tác nhân gây bệnh. Tuy nhiên, đối với chế độ thông tin, báo cáo, việc chưa có kết quả xét nghiệm không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với việc cơ sở được phép bỏ qua nghĩa vụ báo cáo. Do đó, cơ sở y tế cần căn cứ danh mục bệnh phải báo cáo, tiêu chuẩn chẩn đoán và hướng dẫn chuyên môn để xác định nghĩa vụ báo cáo, thay vì chỉ căn cứ vào việc đã có hay chưa có kết quả xét nghiệm. Vì thế, trong trường hợp nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, cơ sở y tế cần rà soát ngay nghĩa vụ báo cáo và các biện pháp chuyên môn tương ứng.
III. Quy định pháp luật về không báo cáo cơ quan y tế dự phòng khi tiếp nhận bệnh nhi thuộc các ca bệnh truyền nhiễm nhóm A, B
Pháp luật hiện hành đặt ra cả yêu cầu về đối tượng, thời hạn, hình thức báo cáo và trách nhiệm của cơ sở y tế nhằm bảo đảm thông tin dịch tễ được truyền đạt kịp thời.
1. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải báo cáo ca bệnh truyền nhiễm nhóm A, B cho cơ quan y tế dự phòng trong những trường hợp nào?
Theo Điều 10 Thông tư 15/2026/TT-BYT, cơ quan, tổ chức, cá nhân khi phát hiện người nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm có trách nhiệm thông báo trong vòng 24 giờ cho Trạm Y tế cấp xã trên địa bàn. Theo khoản 1 Điều 4 Thông tư này, nội dung báo cáo trường hợp bệnh phải bảo đảm đúng đối tượng, nội dung, kỳ báo cáo, thời hạn báo cáo và cấp báo cáo.
Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm tham gia giám sát bệnh truyền nhiễm và phối hợp với cơ quan y tế dự phòng trong việc cung cấp, chia sẻ thông tin về người mắc bệnh, người nghi ngờ mắc bệnh và các thông tin liên quan đến chẩn đoán, điều trị. Cụ thể, khoản 1 Điều 5 Thông tư 15/2026/TT-BYT xác định đối tượng giám sát trong phòng, chống bệnh truyền nhiễm bao gồm người mắc bệnh truyền nhiễm, người mang mầm bệnh truyền nhiễm, người bị nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm, người tiếp xúc và người tử vong do hoặc nghi ngờ do bệnh truyền nhiễm.
Đối với việc thông tin, báo cáo bệnh truyền nhiễm, Điều 10 và Điều 11 Thông tư 15/2026/TT-BYT quy định chế độ thông tin, báo cáo trong giám sát dựa vào chỉ số, giám sát trọng điểm và giám sát dựa vào sự kiện. Bên cạnh đó, Điều 12 và Điều 13 quy định về cách thức khai báo và nội dung khai báo, tiếp nhận thông tin về bệnh truyền nhiễm. Như vậy, khi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phát hiện người bệnh hoặc người nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm thuộc diện phải giám sát, cơ sở phải thực hiện việc cung cấp, khai báo và báo cáo thông tin theo đúng chế độ tương ứng, thay vì chỉ báo cáo khi bệnh nhân đã có kết quả xét nghiệm xác định.
2. Thời hạn và hình thức báo cáo bệnh truyền nhiễm nhóm A, B được pháp luật quy định như thế nào?
Văn bản mới không quy định một thời hạn báo cáo cố định áp dụng chung cho mọi bệnh truyền nhiễm nhóm A, B, mà thời hạn được xác định theo đối tượng, nội dung, kỳ báo cáo và loại hình giám sát tương ứng. Theo điểm a khoản 1 Điều 4 Thông tư 15/2026/TT-BYT, việc thông tin, báo cáo phải thực hiện đúng đối tượng, nội dung, kỳ báo cáo, thời hạn và cấp báo cáo được quy định tại Thông tư. Đối với giám sát bệnh truyền nhiễm dựa vào chỉ số, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thực hiện thông tin, báo cáo đối tượng giám sát trên Hệ thống thông tin giám sát trong phòng bệnh theo khoản 1 Điều 10. Đáng lưu ý, trường hợp có người tử vong do hoặc nghi ngờ do bệnh truyền nhiễm, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải báo cáo trong vòng 24 giờ kể từ khi xảy ra trường hợp tử vong tại cơ sở.
Về hình thức, khoản 2 Điều 4 Thông tư 15/2026/TT-BYT quy định hình thức thông tin, báo cáo chủ yếu là trực tuyến thông qua Hệ thống thông tin giám sát trong phòng bệnh. Trường hợp hệ thống gặp sự cố kỹ thuật, chưa đáp ứng đầy đủ chức năng hoặc theo yêu cầu của cơ quan cấp trên thì có thể thực hiện bằng văn bản điện tử hoặc văn bản giấy. Nếu thông tin, báo cáo được thực hiện bằng văn bản giấy do hệ thống gặp sự cố hoặc chưa đáp ứng chức năng, cơ sở vẫn phải cập nhật, bổ sung dữ liệu lên hệ thống sau khi sự cố được khắc phục hoặc hệ thống hoàn thiện. Danh mục, mẫu giám sát và mẫu báo cáo được thực hiện theo hướng dẫn chuyên môn của Cục Phòng bệnh theo khoản 3 Điều 4. Vì vậy, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cần xây dựng quy trình nội bộ bảo đảm thông tin được chuyển đúng đầu mối, đúng thời hạn và đúng hình thức.
3. Ai có trách nhiệm thực hiện báo cáo khi cơ sở tiếp nhận bệnh nhi thuộc ca bệnh truyền nhiễm nhóm A, B?
Theo Thông tư 15/2026/TT-BYT, trách nhiệm báo cáo được xác định theo từng chủ thể trong hệ thống giám sát, trong đó cơ sở khám bệnh, chữa bệnh là chủ thể trực tiếp thực hiện thông tin, báo cáo đối với các đối tượng giám sát mà cơ sở phát hiện, tiếp nhận. Cụ thể, điểm a khoản 2 Điều 10 Thông tư 15/2026/TT-BYT quy định Trạm Y tế cấp xã và cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, cơ sở xét nghiệm có trách nhiệm thông tin, báo cáo đối tượng giám sát theo quy định trên Hệ thống thông tin giám sát trong phòng bệnh về bệnh truyền nhiễm. Đối với trường hợp tử vong do mắc hoặc nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm, điểm b khoản 2 Điều 10 quy định cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải báo cáo trong vòng 24 giờ kể từ khi có trường hợp tử vong tại cơ sở.
Đối với cá nhân trực tiếp khám và phát hiện bệnh nhi, pháp luật hiện hành không quy định rằng mọi bác sĩ đều phải tự mình gửi báo cáo đến cơ quan y tế dự phòng. Trách nhiệm báo cáo được đặt lên cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo cơ chế thông tin, báo cáo của hệ thống giám sát. Tuy nhiên, bác sĩ hoặc nhân viên y tế trực tiếp tiếp nhận, khám và phát hiện bệnh nhi có trách nhiệm chuyên môn trong việc nhận diện trường hợp nghi ngờ hoặc mắc bệnh truyền nhiễm, ghi nhận đầy đủ thông tin và thực hiện hoặc chuyển thông tin cho bộ phận, người được cơ sở phân công thực hiện báo cáo. Việc phân công nội bộ phải bảo đảm không làm chậm hoặc bỏ sót nghĩa vụ báo cáo. Ngoài ra, khoản 1 Điều 10 Thông tư 15/2026/TT-BYT quy định khi phát hiện người nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm, cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thông báo trong vòng 24 giờ cho Trạm Y tế cấp xã trên địa bàn. Quy định này cho thấy nghĩa vụ thông tin không chỉ phát sinh sau khi có kết quả xét nghiệm xác định bệnh mà còn có thể phát sinh ngay từ giai đoạn phát hiện trường hợp nghi ngờ mắc bệnh thuộc đối tượng giám sát.
Vì vậy, khi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tiếp nhận bệnh nhi mắc hoặc nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm nhóm A, B, người trực tiếp phát hiện ca bệnh cần kịp thời thực hiện quy trình thông tin nội bộ; cơ sở khám bệnh, chữa bệnh là chủ thể chịu trách nhiệm thực hiện việc báo cáo theo hệ thống giám sát. Trường hợp cơ sở đã phân công cụ thể cho cá nhân hoặc bộ phận nhưng người được giao nhiệm vụ không thực hiện thì cần xem xét trách nhiệm của từng chủ thể dựa trên quy chế, phân công công việc và nguyên nhân thực tế.
4. Cơ sở y tế không báo cáo ca bệnh truyền nhiễm làm ảnh hưởng đến công tác phòng, chống dịch có thể bị xử lý như thế nào?
Nghị định 90/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế, trong đó Điều 7 quy định về vi phạm quy định về giám sát bệnh truyền nhiễm.
Theo điểm b khoản 2 Điều 7, hành vi không báo cáo hoặc báo cáo không đầy đủ về giám sát bệnh truyền nhiễm theo quy định của pháp luật bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với cá nhân. Đối với tổ chức, mức phạt tiền đối với cùng hành vi được áp dụng theo quy định về mức phạt đối với tổ chức tại Nghị định. Đối với hành vi che giấu, không khai báo hoặc khai báo không kịp thời bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A của bản thân hoặc của người khác mắc bệnh nhóm A, điểm a khoản 3 Điều 7 quy định mức phạt từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với cá nhân; mức phạt đối với tổ chức được áp dụng theo quy định tương ứng về xử phạt tổ chức. Vì vậy, mức phạt cụ thể không thể xác định chỉ dựa vào việc “không báo cáo”, mà phải căn cứ vào loại bệnh, hành vi cụ thể, chủ thể vi phạm, hậu quả và các tình tiết của vụ việc.
IV. Giải đáp các thắc mắc thường gặp về không báo cáo cơ quan y tế dự phòng khi tiếp nhận bệnh nhi thuộc các ca bệnh truyền nhiễm nhóm A, B
Trong thực tế, việc xác định thời điểm và chủ thể báo cáo thường phát sinh nhiều vướng mắc, đặc biệt đối với trường hợp bệnh nhi được chuyển tuyến hoặc chưa có kết quả xét nghiệm.
1. Khi tiếp nhận bệnh nhi nghi mắc bệnh truyền nhiễm nhóm A, cơ sở y tế có phải báo cáo ngay không?
Khi tiếp nhận bệnh nhi nghi mắc bệnh truyền nhiễm nhóm A, cơ sở y tế có phải báo cáo ngay . Theo khoản 1 Điều 10 Thông tư 15/2026/TT-BYT, khi cơ quan, tổ chức, cá nhân phát hiện người nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm thì có trách nhiệm thông báo trong vòng 24 giờ cho Trạm Y tế cấp xã trên địa bàn. Quy định này áp dụng đối với trường hợp nghi ngờ mắc bệnh, do đó cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không nhất thiết phải chờ đến khi có kết quả xét nghiệm xác định mới thực hiện thông báo.
Đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, điểm a khoản 2 Điều 10 Thông tư 15/2026/TT-BYT quy định cơ sở phải thực hiện thông tin, báo cáo đối tượng giám sát trên Hệ thống thông tin giám sát trong phòng bệnh về bệnh truyền nhiễm. Trường hợp có yêu cầu thông tin, báo cáo đột xuất thì thực hiện theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền theo điểm c khoản 2 Điều 10. Vì vậy, khi tiếp nhận bệnh nhi có dấu hiệu nghi mắc bệnh truyền nhiễm nhóm A, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cần nhanh chóng xác định trường hợp này có thuộc đối tượng giám sát và khai báo theo quy định hay không, đồng thời thực hiện thông báo trong thời hạn luật định; không nên chờ đến khi có kết quả xét nghiệm xác định bệnh mới thực hiện nghĩa vụ thông tin.
2. Bệnh nhi được chuyển từ cơ sở khác đến thì cơ sở tiếp nhận có phải thực hiện lại việc báo cáo ca bệnh không?
Không phải thực hiện lại toàn bộ báo cáo nếu ca bệnh đã được cơ sở chuyển đi báo cáo đầy đủ. Hiện nay, Thông tư 15/2026/TT-BYT không có quy định cụ thể rằng cơ sở tiếp nhận bệnh nhi chuyển tuyến phải lập lại một báo cáo ca bệnh hoàn toàn mới.
Tuy nhiên, theo khoản 1 Điều 10 Thông tư 15/2026/TT-BYT, khi phát hiện người nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm, cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thông báo trong vòng 24 giờ cho Trạm Y tế cấp xã trên địa bàn. Đồng thời, điểm a khoản 2 Điều 10 yêu cầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thực hiện thông tin, báo cáo đối tượng giám sát trên Hệ thống thông tin giám sát trong phòng bệnh. Vì vậy, nếu cơ sở tiếp nhận phát hiện ca bệnh chưa được báo cáo, thông tin báo cáo chưa đầy đủ hoặc phát sinh thông tin mới thuộc diện phải báo cáo thì vẫn phải thực hiện thông tin, cập nhật hoặc bổ sung theo quy định. Kết luận lại, nếu bệnh nhi đã được cơ sở trước đó báo cáo đầy đủ thì cơ sở tiếp nhận không phải báo cáo lại toàn bộ ca bệnh chỉ vì bệnh nhi được chuyển đến. Trường hợp chưa được báo cáo hoặc có thông tin mới cần cập nhật thì cơ sở tiếp nhận phải thực hiện báo cáo theo quy định.
3. Nếu cơ sở y tế phát hiện ca bệnh nhóm B nhưng báo cáo chậm thì có bị xem là vi phạm không?
Có thể bị xem là vi phạm nếu việc báo cáo chậm làm cơ sở không thực hiện đúng thời hạn báo cáo theo quy định áp dụng đối với ca bệnh đó. Theo Thông tư 15/2026/TT-BYT, khi phát hiện người nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm, cơ quan, tổ chức, cá nhân phải thông báo trong vòng 24 giờ cho Trạm Y tế cấp xã trên địa bàn. Tuy nhiên, Thông tư 15/2026/TT-BYT không quy định một thời hạn 24 giờ áp dụng riêng cho mọi ca bệnh nhóm B. Vì vậy, không thể chỉ căn cứ việc “báo cáo sau 24 giờ” để kết luận mọi trường hợp đều vi phạm; cần xác định ca bệnh nhóm B đó thuộc đối tượng giám sát nào và thời hạn báo cáo tương ứng theo quy định chuyên môn. Kết luận lại, cơ sở y tế phát hiện ca bệnh nhóm B mà báo cáo chậm có thể bị xử lý nếu việc chậm báo cáo vi phạm thời hạn báo cáo được pháp luật hoặc hướng dẫn chuyên môn quy định. Cần xác định cụ thể loại bệnh và chế độ giám sát áp dụng trước khi kết luận có vi phạm hay không.
4. Trường hợp bác sĩ không thực hiện báo cáo nhưng cơ sở y tế đã biết về ca bệnh thì trách nhiệm thuộc về ai?
Trường hợp bác sĩ không trực tiếp thực hiện báo cáo nhưng cơ sở y tế đã biết về ca bệnh, trách nhiệm không mặc nhiên chỉ thuộc về bác sĩ. Cần xác định ai là chủ thể có nghĩa vụ báo cáo và ai được cơ sở phân công thực hiện nhiệm vụ này.
Theo điểm a khoản 2 Điều 10 Thông tư 15/2026/TT-BYT, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh là một trong các đơn vị có trách nhiệm thực hiện thông tin, báo cáo đối tượng giám sát trên Hệ thống thông tin giám sát trong phòng bệnh về bệnh truyền nhiễm. Vì vậy, khi thông tin về ca bệnh đã được tiếp nhận ở cấp cơ sở nhưng cơ sở không thực hiện báo cáo theo quy định thì trách nhiệm trước hết được xem xét đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh với tư cách là đơn vị có nghĩa vụ báo cáo.
Đối với bác sĩ trực tiếp phát hiện ca bệnh, trách nhiệm cá nhân chỉ đặt ra khi bác sĩ được giao nhiệm vụ báo cáo hoặc có nghĩa vụ cung cấp, chuyển thông tin theo quy trình chuyên môn của cơ sở nhưng không thực hiện, dẫn đến việc ca bệnh không được báo cáo đúng quy định. Khi đó, cần căn cứ vào phân công nhiệm vụ, quy chế nội bộ và hành vi thực tế để xác định trách nhiệm cụ thể của bác sĩ. Pháp luật hiện nay không quy định rằng trong mọi trường hợp bác sĩ trực tiếp khám bệnh phải là người tự mình thực hiện báo cáo trên hệ thống. Kết luận lại, nếu cơ sở y tế đã biết về ca bệnh nhưng không thực hiện nghĩa vụ báo cáo thì trách nhiệm trước hết được xem xét đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; còn trách nhiệm của bác sĩ phải căn cứ vào nhiệm vụ được giao và hành vi cụ thể. Không thể mặc nhiên chuyển toàn bộ trách nhiệm cho bác sĩ chỉ vì bác sĩ là người trực tiếp tiếp nhận hoặc khám cho bệnh nhi.
5. Cơ sở khám chữa bệnh báo cáo thiếu thông tin về bệnh nhi mắc bệnh truyền nhiễm có phải báo cáo bổ sung không?
Cơ sở khám chữa bệnh báo cáo thiếu thông tin về bệnh nhi mắc bệnh truyền nhiễm phải báo cáo bổ sung. Theo điểm b khoản 1 Điều 4 Thông tư 15/2026/TT-BYT, trường hợp phát hiện thông tin, dữ liệu báo cáo còn thiếu, sai lệch hoặc chưa thống nhất thì cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan có trách nhiệm kiểm tra, cập nhật, điều chỉnh, bổ sung theo thẩm quyền. Đồng thời, khoản 2 Điều 3 Thông tư này yêu cầu dữ liệu trên Hệ thống thông tin giám sát trong phòng bệnh phải bảo đảm chính xác, đầy đủ và kịp thời. Do đó, nếu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã báo cáo ca bệnh nhưng phát hiện thiếu thông tin về bệnh nhi, cơ sở phải kiểm tra và thực hiện cập nhật, bổ sung hoặc điều chỉnh thông tin theo thẩm quyền, thay vì giữ nguyên báo cáo thiếu. Việc bổ sung được thực hiện trên Hệ thống thông tin giám sát trong phòng bệnh theo hình thức thông tin, báo cáo quy định tại khoản 2 Điều 4 Thông tư 15/2026/TT-BYT. Kết luận lại, cơ sở khám chữa bệnh có trách nhiệm báo cáo bổ sung khi phát hiện thông tin về bệnh nhi đã báo cáo còn thiếu, sai lệch hoặc chưa thống nhất.
V. NPLaw hỗ trợ tư vấn và xử lý vấn đề pháp lý về việc không báo cáo cơ quan y tế dự phòng khi tiếp nhận bệnh nhi thuộc các ca bệnh truyền nhiễm nhóm A, B
Với tư cách là công ty luật, NPLaw cung cấp dịch vụ tư vấn và hỗ trợ pháp lý cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khi phát sinh vấn đề liên quan đến không báo cáo cơ quan y tế dự phòng khi tiếp nhận bệnh nhi thuộc các ca bệnh truyền nhiễm nhóm A, B.
NPLaw có thể hỗ trợ rà soát nghĩa vụ báo cáo, xác định ca bệnh có thuộc trường hợp phải thông báo, báo cáo hay không; kiểm tra thời hạn, hình thức báo cáo và trách nhiệm của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, người phụ trách chuyên môn hoặc cá nhân được phân công. Trường hợp đã xảy ra thiếu sót trong quá trình báo cáo, NPLaw hỗ trợ đánh giá mức độ vi phạm và đề xuất phương án khắc phục, bổ sung thông tin hoặc giải trình phù hợp.
Trên đây là các thông tin mang tính tham khảo, Quý khách hàng cần tư vấn chi tiết về trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ cho Hãng luật NPLaw để được tư vấn ngay.