Nhu cầu chăm sóc và hỗ trợ sức khỏe tinh thần cho trẻ em, thanh thiếu niên ngày càng được quan tâm, kéo theo yêu cầu về đào tạo và chứng nhận chuyên môn trong lĩnh vực này. Chứng nhận bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên là một trong những nội dung được nhiều cá nhân, tổ chức tìm hiểu khi muốn nâng cao kiến thức và kỹ năng chuyên môn.
I. Giới thiệu các vấn đề liên quan đến chứng nhận bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên
Trong lĩnh vực hỗ trợ tâm lý cho trẻ em và thanh thiếu niên, việc phân biệt giữa chứng nhận hoàn thành chương trình bồi dưỡng với văn bằng, chứng chỉ chuyên môn và giấy phép hành nghề có ý nghĩa quan trọng. Đặc biệt, pháp luật hiện hành đã quy định chức danh tâm lý lâm sàng là một trong các chức danh chuyên môn phải có giấy phép hành nghề khi thực hiện hoạt động thuộc phạm vi khám bệnh, chữa bệnh.

Do đó, khi tìm hiểu chứng nhận bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên, cần xem xét đồng thời giá trị của chứng nhận, nội dung đào tạo, đơn vị cấp và mối quan hệ giữa chứng nhận này với điều kiện hành nghề tâm lý lâm sàng theo pháp luật hiện hành.
II. Tìm hiểu về chứng nhận bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên
Trước khi sử dụng chứng nhận trong hồ sơ chuyên môn hoặc để thực hiện hoạt động hỗ trợ, can thiệp tâm lý cho trẻ em và thanh thiếu niên, cá nhân cần xác định rõ chứng nhận được cấp bởi cơ sở nào, chương trình đào tạo có được pháp luật công nhận hay không và chứng nhận có giá trị đến đâu. Đây là vấn đề đặc biệt cần lưu ý bởi một chứng nhận bồi dưỡng không mặc nhiên đồng nghĩa với giấy phép hành nghề tâm lý lâm sàng.
1. Chứng nhận bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên được định nghĩa pháp lý như thế nào trong hệ thống văn bản đào tạo chuyên môn?
Hiện nay, qua các quy định về hành nghề tâm lý lâm sàng, chưa có cơ sở để khẳng định “chứng nhận bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên” là một loại văn bằng hoặc giấy phép hành nghề được pháp luật quy định thống nhất với chính tên gọi này.
Theo Điều 27 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023, giấy phép hành nghề là văn bản do cơ quan có thẩm quyền cấp cho người có đủ điều kiện hành nghề; trong đó có thông tin về chức danh chuyên môn và phạm vi hành nghề. Tâm lý lâm sàng được xác định là một chức danh chuyên môn trong hệ thống chức danh chuyên môn phải có giấy phép hành nghề.
Đồng thời, khoản 8 Điều 8 Nghị định số 96/2023/NĐ-CP quy định các văn bằng, chứng chỉ được sử dụng để xác định phạm vi hành nghề tâm lý lâm sàng. Đối với chức danh tâm lý lâm sàng với phạm vi hành nghề tâm lý lâm sàng, một trong các trường hợp được quy định là có một trong các văn bằng sau:
- Văn bằng bác sỹ quy định tại khoản 1 Điều này và có chứng chỉ đào tạo chuyên khoa cơ bản về tâm lý lâm sàng theo quy định tại khoản 2 Điều 128 Nghị định này;
- Văn bằng cử nhân tâm lý học, bao gồm văn bằng tốt nghiệp do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận trình độ cử nhân tâm lý học và có chứng chỉ đào tạo chuyên khoa cơ bản về tâm lý lâm sàng theo quy định tại khoản 2 Điều 128 Nghị định này.
Do đó, không nên chỉ căn cứ vào tên gọi “chứng nhận bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên” để kết luận người sở hữu chứng nhận đã đủ điều kiện hành nghề tâm lý lâm sàng.
2. Chứng nhận bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên đóng vai trò và ý nghĩa thực tiễn gì trong hồ sơ năng lực của chuyên gia tâm lý?
Về thực tiễn, chứng nhận hoàn thành chương trình bồi dưỡng có thể được sử dụng để chứng minh quá trình đào tạo, cập nhật kiến thức hoặc phát triển kỹ năng chuyên môn của cá nhân, tùy thuộc vào chương trình và đơn vị cấp.

Đặc biệt, nếu chương trình tập trung vào tâm lý trẻ em và thanh thiếu niên, chứng nhận có thể giúp hồ sơ năng lực thể hiện quá trình được đào tạo về những vấn đề chuyên môn như:
- Đặc điểm tâm lý theo từng giai đoạn phát triển;
- Kỹ năng đánh giá và nhận diện vấn đề tâm lý;
- Phương pháp tham vấn, hỗ trợ tâm lý phù hợp với trẻ em;
- Kỹ năng làm việc với cha mẹ và người chăm sóc;
- Các vấn đề tâm lý thường gặp ở trẻ em và thanh thiếu niên;
- Nguyên tắc đạo đức và bảo mật thông tin trong hoạt động hỗ trợ tâm lý.
Tuy nhiên, giá trị thực tiễn của chứng nhận không đồng nghĩa với giá trị pháp lý của giấy phép hành nghề.
Do đó, khi đánh giá hồ sơ năng lực của một người cung cấp dịch vụ tâm lý, cần xem xét tổng thể bằng cấp chuyên môn, quá trình đào tạo, thực hành, giấy phép hành nghề và phạm vi hành nghề, thay vì chỉ dựa vào một chứng nhận bồi dưỡng.
3. Nội dung chương trình bồi dưỡng và khối lượng tiết học chuẩn để được cấp chứng nhận bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên được cấu trúc thế nào?
Hiện chưa có căn cứ để khẳng định pháp luật chuyên ngành quy định một chương trình thống nhất hoặc một số tiết học bắt buộc áp dụng chung cho mọi chứng nhận mang tên “bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên”.
Do đó, khối lượng học tập, nội dung chương trình, hình thức kiểm tra và điều kiện cấp chứng nhận cần được xác định dựa trên:
- Tên chính thức của chương trình;
- Đơn vị tổ chức đào tạo;
- Cơ sở pháp lý để tổ chức chương trình;
- Đối tượng tuyển sinh;
- Nội dung chương trình được phê duyệt hoặc ban hành;
- Thời lượng đào tạo;
- Điều kiện hoàn thành khóa học;
- Mẫu và giá trị của chứng nhận được cấp.
Nếu mục tiêu của người học là đáp ứng điều kiện hành nghề tâm lý lâm sàng, thì không nên chỉ dựa vào một chương trình bồi dưỡng có tên gọi liên quan đến “tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên”. Nghị định số 96/2023/NĐ-CP quy định cụ thể về văn bằng, chứng chỉ chuyên môn sử dụng để xác định phạm vi hành nghề tâm lý lâm sàng.
Đây cũng là vấn đề đang được cơ quan quản lý chuyên ngành tiếp tục hoàn thiện. Bộ Y tế từng thông tin về việc sửa đổi tiêu chuẩn văn bằng đối với hành nghề tâm lý lâm sàng để tháo gỡ các vướng mắc thực tế.
4. Cơ quan nhà nước nào có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra tính hợp pháp của chứng nhận bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên tại các trung tâm can thiệp sớm?
Cần phân biệt kiểm tra tính hợp pháp của chứng nhận với kiểm tra điều kiện hoạt động của trung tâm và điều kiện hành nghề của người cung cấp dịch vụ.
Nếu trung tâm can thiệp sớm thực hiện hoạt động thuộc phạm vi khám bệnh, chữa bệnh, thì hoạt động của cơ sở và người hành nghề chịu sự quản lý của cơ quan quản lý nhà nước về y tế. Theo Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải được cấp giấy phép hoạt động và người hành nghề phải có giấy phép hành nghề phù hợp với chức danh, phạm vi hành nghề.
Đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên địa bàn tỉnh, cơ quan chuyên môn về y tế thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền thực hiện một số nhiệm vụ quản lý, trong khi Bộ Y tế thực hiện thẩm quyền đối với các cơ sở thuộc phạm vi quản lý của Bộ.
Vì vậy, khi kiểm tra một trung tâm can thiệp sớm, cơ quan có thẩm quyền sẽ không chỉ xem xét chứng nhận bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên, mà còn có thể xem xét tư cách pháp lý của cơ sở, giấy phép hoạt động, giấy phép hành nghề của người thực hiện chuyên môn và phạm vi dịch vụ thực tế được cung cấp.
Lưu ý: Nếu “chứng nhận bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên” chỉ là chứng nhận hoàn thành một khóa học do một cơ sở đào tạo cấp thì cần kiểm tra riêng thẩm quyền của đơn vị cấp và căn cứ pháp lý của chương trình, không nên mặc nhiên coi đây là chứng chỉ chuyên môn đủ để hành nghề tâm lý lâm sàng.
III. Các quy định pháp luật có liên quan đến chứng nhận bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên
Trước hết, cần lưu ý rằng pháp luật hiện hành không quy định một loại giấy tờ có tên thống nhất là “chứng nhận bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên” và cũng chưa có quy trình chung về cấp loại chứng nhận này. Nếu chương trình được tổ chức nhằm đào tạo chuyên môn phục vụ hành nghề tâm lý lâm sàng, việc xác định giá trị pháp lý phải căn cứ vào Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023 và Nghị định số 96/2023/NĐ-CP.
1. Thành phần hồ sơ đăng ký tham gia khóa đào tạo để cấp chứng nhận bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên bao gồm những giấy tờ gì?
Theo khoản 1 Điều 130 Nghị định số 96/2023/NĐ-CP, hồ sơ đăng ký tham gia khóa đào tạo để cấp chứng nhận bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên để cấp giấy phép hành nghề bao gồm những giấy tờ sau:
- Đơn theo Mẫu 08 Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này.
- Bản sao hợp lệ của một trong các giấy tờ sau: Văn bằng chuyên môn; Giấy phép hành nghề đã được thừa nhận; Bản chính hoặc bản sao hợp lệ giấy khám sức khỏe do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có đủ điều kiện cấp hoặc bản sao hợp lệ giấy phép lao động đối với trường hợp phải có giấy phép lao động theo quy định của Bộ luật Lao động.
- Bản sao hợp lệ của một trong các giấy tờ sau đây: Sơ yếu lý lịch tự thuật; Bản chính hoặc bản sao hợp lệ giấy xác nhận hoàn thành quá trình thực hành; 02 ảnh chân dung cỡ 04 cm x 06 cm, chụp trên nền trắng trong thời gian không quá 06 tháng tính đến thời điểm nộp hồ sơ đề nghị cấp mới giấy phép hành nghề.
Theo đó, người đề nghị cấp giấy phép hành nghề gửi 01 bộ hồ sơ tương ứng với từng và nộp phí theo quy định của pháp luật về phí, lệ phí cho cơ quan cấp giấy phép hành nghề quy định tại Điều 28 của Luật Khám bệnh, chữa bệnh.

Cơ quan cấp giấy phép hành nghề thực hiện việc cấp giấy phép hành nghề trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ. Trường hợp không cấp giấy phép hành nghề thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
2. Trình tự và thủ tục tổ chức đánh giá, thi sát hạch thực hành lâm sàng để cấp chứng nhận bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên diễn ra như thế nào?
Theo Điều 9 Nghị định số 96/2023/NĐ-CP, nội dung kiểm tra đánh giá năng lực hành nghề khám bệnh, chữa bệnh của các chức danh tâm lý lâm sàng thực hiện dựa trên chuẩn năng lực nghề nghiệp tương ứng với từng chức danh và bộ công cụ đánh giá năng lực hành nghề khám bệnh, chữa bệnh.
Hội đồng Y khoa Quốc gia xây dựng Quy chế kiểm tra đánh giá năng lực hành nghề khám bệnh, chữa bệnh; tiêu chí của cơ sở là địa điểm tổ chức kiểm tra đánh giá năng lực hành nghề khám bệnh, chữa bệnh trình Bộ trưởng Bộ Y tế phê duyệt.
Hội đồng Y khoa Quốc gia thực hiện việc:
- Chủ trì tổ chức kiểm tra đánh giá năng lực hành nghề khám bệnh, chữa bệnh theo Quy chế kiểm tra đánh giá năng lực hành nghề khám bệnh, chữa bệnh tại khoản 2 Điều này;
- Lựa chọn cơ sở là địa điểm tổ chức kiểm tra đánh giá năng lực hành nghề khám bệnh, chữa bệnh đáp ứng theo tiêu chí đã được phê duyệt.
- Hội đồng Y khoa Quốc gia xây dựng cụ thể mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng chi phí kiểm tra đánh giá năng lực hành nghề khám bệnh, chữa bệnh trình Bộ trưởng Bộ Y tế phê duyệt.
Điểm quan trọng là không nên đánh đồng “thi sát hạch” do một cơ sở đào tạo tự tổ chức với kỳ thi hoặc quy trình đánh giá để cấp giấy phép hành nghề. Giấy phép hành nghề là loại giấy tờ pháp lý riêng, được cấp theo thẩm quyền và điều kiện của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh.
3. Quy định xử phạt đối với tổ chức giáo dục mạo danh cấp chứng nhận bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên trái luật là gì?
Việc xử phạt đối với tổ chức giáo dục mạo danh cấp chứng nhận bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên trái luật tùy tính chất, mức độ, cụ thể:
- Trách nhiệm hành chính: Theo điểm d, điểm đ khoản 7 Điều 38 Nghị định 90/2026/NĐ-CP, hành vi thuê, mượn giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh để hành nghề; cho người khác thuê, mượn giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh;... sẽ bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng. Ngoài ra, còn bị tước quyền sử dụng giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh trong thời hạn từ 22 tháng đến 24 tháng.
- Trách nhiệm hình sự: Nếu người sử dụng chứng chỉ, giấy phép hành nghề giả biết rõ đó là tài liệu giả nhưng vẫn sử dụng nhằm thực hiện hành vi trái pháp luật, tùy vào hành vi cụ thể và các yếu tố cấu thành tội phạm, có thể bị xem xét về tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức theo Điều 341 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Muốn xác định chính xác chế tài phải xem xét chứng nhận được cấp dưới tư cách gì, tổ chức cấp có đủ điều kiện hay không, có hoạt động khám bệnh, chữa bệnh hay không, có giả mạo giấy tờ hay không và hành vi đã gây ra hậu quả gì.
IV. Các thắc mắc thường gặp liên quan đến chứng nhận bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên
Chứng nhận bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên ngày càng được nhiều cá nhân sử dụng để bổ sung hồ sơ chuyên môn hoặc giới thiệu năng lực khi cung cấp dịch vụ tư vấn, trị liệu tâm lý. Tuy nhiên, cần phân biệt rõ chứng nhận hoàn thành một khóa bồi dưỡng với văn bằng chuyên môn, chứng chỉ đào tạo chuyên khoa và giấy phép hành nghề theo pháp luật Việt Nam. Dưới đây là một số vấn đề pháp lý thường được quan tâm:
1. Chứng nhận bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên do tổ chức quốc tế cấp online có giá trị pháp lý và được công nhận tương đương tại Việt Nam không?
Không phải mọi chứng nhận do tổ chức quốc tế cấp, kể cả chứng nhận được cấp sau khi học trực tuyến (online), đều đương nhiên có giá trị pháp lý hoặc được công nhận tương đương tại Việt Nam.
Theo khoản 1 Điều 127 Nghị định số 96/2023/NĐ-CP quy định các loại văn bằng được xem xét cấp giấy phép hành nghề đối với chức danh tâm lý lâm sàng, trong đó có văn bằng cử nhân tâm lý học do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp nhưng phải được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam công nhận trình độ theo quy định; đồng thời, trong các trường hợp tương ứng còn yêu cầu chứng chỉ đào tạo chuyên khoa cơ bản về tâm lý lâm sàng.
Vì vậy, một chứng nhận bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên do tổ chức quốc tế cấp online không tự động được coi là chứng chỉ đào tạo chuyên khoa cơ bản về tâm lý lâm sàng và cũng không thay thế giấy phép hành nghề. Giá trị của chứng nhận cần được xem xét dựa trên đơn vị cấp, nội dung chương trình, thời lượng đào tạo, hình thức đào tạo, tư cách pháp lý của tổ chức cấp và mục đích sử dụng chứng nhận.
Đặc biệt, nếu cá nhân sử dụng chứng nhận này để thực hiện hoạt động khám bệnh, chữa bệnh dưới danh nghĩa người hành nghề tâm lý lâm sàng thì còn phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện về giấy phép hành nghề và đăng ký hành nghề theo Luật Khám bệnh, chữa bệnh.
2. Thủ tục hợp pháp hóa lãnh sự đối với chứng nhận bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên cấp ở nước ngoài được thực hiện như thế nào?
Về nguyên tắc, giấy tờ, tài liệu của nước ngoài muốn được công nhận và sử dụng tại Việt Nam phải thực hiện hợp pháp hóa lãnh sự, trừ các trường hợp được miễn theo Điều 9 Nghị định số 111/2011/NĐ-CP, được sửa đổi bởi Nghị định 196/2025/NĐ-CP. Theo Điều 2 Nghị định này, hợp pháp hóa lãnh sự chỉ nhằm chứng nhận con dấu, chữ ký và chức danh trên giấy tờ, tài liệu của nước ngoài, không bao hàm việc chứng nhận nội dung và hình thức của giấy tờ đó.
Đối với chứng nhận bồi dưỡng được cấp ở nước ngoài, về cơ bản người sử dụng có thể thực hiện theo các bước:
- Bước 1: Kiểm tra chứng nhận có thuộc trường hợp phải hợp pháp hóa lãnh sự hay được miễn. Cần kiểm tra điều ước quốc tế giữa Việt Nam và quốc gia cấp chứng nhận, nguyên tắc có đi có lại hoặc quy định pháp luật có liên quan. Nếu thuộc trường hợp được miễn thì không phải thực hiện thủ tục hợp pháp hóa lãnh sự.
- Bước 2: Chứng nhận giấy tờ tại cơ quan có thẩm quyền của nước cấp. Giấy tờ, tài liệu nước ngoài trước khi đề nghị hợp pháp hóa lãnh sự tại Việt Nam phải được cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự hoặc cơ quan khác được ủy quyền của nước đó chứng nhận theo quy định.
- Bước 3: Nộp hồ sơ hợp pháp hóa lãnh sự tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam. Hồ sơ về cơ bản gồm tờ khai hợp pháp hóa lãnh sự, giấy tờ tùy thân, bản gốc giấy tờ cần hợp pháp hóa đã được cơ quan có thẩm quyền nước ngoài chứng nhận và bản dịch theo trường hợp pháp luật quy định. Điều 14 Nghị định số 111/2011/NĐ-CP, được sửa đổi bởi Nghị định 196/2025/NĐ-CP quy định cụ thể thành phần hồ sơ và trình tự thực hiện tại Bộ Ngoại giao.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng hợp pháp hóa lãnh sự không đồng nghĩa với việc chứng nhận đó được công nhận về mặt chuyên môn. Điều 21 Nghị định số 111/2011/NĐ-CP, được sửa đổi bởi Nghị định 196/2025/NĐ-CP quy định cơ quan, tổ chức Việt Nam tiếp nhận giấy tờ đã được hợp pháp hóa lãnh sự vẫn phải xem xét, đối chiếu với pháp luật và các giấy tờ có liên quan để quyết định có chấp nhận hay không.
Do đó, ngay cả khi chứng nhận bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên đã được hợp pháp hóa lãnh sự, chứng nhận này không mặc nhiên được sử dụng để thay thế văn bằng chuyên môn hoặc giấy phép hành nghề tâm lý lâm sàng.
3. Trường hợp mượn hoặc cho người khác thuê danh nghĩa chứng nhận bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên để mở văn phòng tư vấn sẽ bị xử lý như thế nào?
Việc cho người khác mượn hoặc thuê danh nghĩa chứng nhận để người không trực tiếp được đào tạo sử dụng chứng nhận nhằm tạo dựng điều kiện chuyên môn cho hoạt động tư vấn là hành vi có rủi ro pháp lý cao.
- Trách nhiệm hành chính: Theo điểm d, điểm đ khoản 7 Điều 38 Nghị định 90/2026/NĐ-CP, hành vi thuê, mượn giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh để hành nghề; cho người khác thuê, mượn giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh;... sẽ bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng. Ngoài ra, còn bị tước quyền sử dụng giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh trong thời hạn từ 22 tháng đến 24 tháng.
- Trách nhiệm hình sự: Nếu người sử dụng chứng chỉ, giấy phép hành nghề giả biết rõ đó là tài liệu giả nhưng vẫn sử dụng nhằm thực hiện hành vi trái pháp luật, tùy vào hành vi cụ thể và các yếu tố cấu thành tội phạm, có thể bị xem xét về tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức theo Điều 341 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Trường hợp chứng nhận là thật nhưng bị sử dụng sai người, cần xem xét cụ thể hành vi của từng bên, mục đích sử dụng, nội dung kê khai với cơ quan nhà nước, hậu quả phát sinh và mức độ tham gia của người cho mượn chứng nhận. Không nên mặc nhiên coi mọi trường hợp cho mượn chứng nhận đều cấu thành một tội danh hình sự; tuy nhiên, việc dùng danh nghĩa của người có chuyên môn để hợp thức hóa điều kiện hành nghề cho người không đủ điều kiện có thể dẫn đến nhiều trách nhiệm pháp lý khác nhau.
4. Trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại của doanh nghiệp phát sinh thế nào khi nhân viên sử dụng chứng nhận bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên giả?
Doanh nghiệp không đương nhiên phải chịu trách nhiệm bồi thường cho mọi thiệt hại do nhân viên sử dụng chứng nhận giả gây ra. Trách nhiệm của doanh nghiệp cần được xác định dựa trên hành vi của nhân viên, phạm vi công việc được giao, lỗi của doanh nghiệp và mối quan hệ nhân quả giữa hoạt động của doanh nghiệp với thiệt hại thực tế.
Theo Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015, người có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản hoặc quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.
Đặc biệt, Điều 597 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra: pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao; sau khi bồi thường, pháp nhân có quyền yêu cầu người có lỗi hoàn trả theo quy định pháp luật.
Do đó, nếu nhân viên sử dụng chứng nhận giả trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được doanh nghiệp giao, chẳng hạn trực tiếp tư vấn hoặc trị liệu cho khách hàng, và hành vi này gây thiệt hại về sức khỏe, tinh thần, tài sản hoặc quyền, lợi ích hợp pháp khác của khách hàng, doanh nghiệp có thể phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường nếu đáp ứng điều kiện của Điều 597 Bộ luật Dân sự.
Sau đó, doanh nghiệp có quyền xem xét trách nhiệm hoàn trả của người lao động có lỗi. Ngoài trách nhiệm dân sự, nếu doanh nghiệp biết hoặc cố ý sử dụng người không đủ điều kiện chuyên môn để cung cấp dịch vụ thì còn có thể phát sinh các trách nhiệm pháp lý khác tùy tính chất, mức độ vi phạm.
5. Hệ quả pháp lý chấm dứt hợp đồng lao động không bồi thường khi phát hiện người lao động gian lận chứng nhận bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên được quy định ra sao?
Cần phân biệt giữa đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và xử lý kỷ luật sa thải.
- Theo khoản 2 Điều 16 Bộ luật Lao động năm 2019, người lao động có nghĩa vụ cung cấp trung thực cho người sử dụng lao động về trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề và các vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu.
- Đáng chú ý, điểm g khoản 1 Điều 36 Bộ luật Lao động năm 2019 cho phép người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động khi người lao động cung cấp không trung thực thông tin theo khoản 2 Điều 16 khi giao kết hợp đồng lao động và việc cung cấp thông tin đó làm ảnh hưởng đến quyết định tuyển dụng.
- Do đó, nếu người lao động sử dụng chứng nhận giả hoặc kê khai không trung thực về chứng nhận, trình độ, năng lực chuyên môn để được tuyển dụng vào vị trí mà chứng nhận đó là yếu tố quan trọng đối với quyết định tuyển dụng, doanh nghiệp có thể xem xét quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng theo điểm g khoản 1 Điều 36.
Về trợ cấp thôi việc, Điều 46 Bộ luật Lao động quy định người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc khi hợp đồng chấm dứt trong các trường hợp luật định, nhưng loại trừ trường hợp người lao động tự ý bỏ việc từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên theo điểm e khoản 1 Điều 36.
Ngoài ra, nếu doanh nghiệp lựa chọn xử lý kỷ luật lao động thay vì đơn phương chấm dứt hợp đồng thì phải tuân thủ nguyên tắc, trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật theo Điều 122 Bộ luật Lao động. Đặc biệt, pháp luật không quy định riêng rằng mọi trường hợp sử dụng chứng nhận giả đều đương nhiên bị sa thải; việc áp dụng hình thức sa thải phải có căn cứ thuộc Điều 125 và đáp ứng đầy đủ điều kiện xử lý kỷ luật lao động.
V. Bạn đang tìm một chuyên gia pháp lý uy tín để hỗ trợ vấn đề liên quan đến chứng nhận bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên?
Các vấn đề liên quan đến chứng nhận bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên có thể liên quan đồng thời đến pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh, lao động, dân sự, hợp pháp hóa lãnh sự và thậm chí trách nhiệm hành chính hoặc hình sự. Đặc biệt, việc xác định một chứng nhận nước ngoài có được sử dụng tại Việt Nam hay không không chỉ phụ thuộc vào việc chứng nhận đã được hợp pháp hóa lãnh sự mà còn phải xem xét tư cách của tổ chức cấp, nội dung đào tạo, giá trị chuyên môn của chứng nhận và điều kiện hành nghề theo pháp luật Việt Nam.
Do đó, cá nhân, doanh nghiệp hoặc cơ sở cung cấp dịch vụ tâm lý nên rà soát hồ sơ chuyên môn và mô hình hoạt động trước khi sử dụng chứng nhận để tuyển dụng, đăng ký hành nghề hoặc quảng bá dịch vụ. Việc chủ động kiểm tra tính pháp lý giúp hạn chế nguy cơ sử dụng chứng nhận không được công nhận, bố trí người không đủ điều kiện chuyên môn hoặc phát sinh trách nhiệm bồi thường khi xảy ra thiệt hại.
Trên đây là các thông tin mang tính tham khảo, Quý khách hàng cần tư vấn chi tiết về trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ cho Hãng luật NPLaw để được tư vấn ngay.