Trong quá trình sử dụng thiết bị công nghệ cao tại cơ sở da liễu, việc xác định đúng loại bức xạ, điều kiện nhân sự và yêu cầu đào tạo là vấn đề cần được kiểm tra ngay từ đầu. NPLaw cung cấp góc nhìn pháp lý nhằm giúp cơ sở nhận diện đúng chứng chỉ đào tạo an toàn bức xạ trong da liễu.

I. Thực trạng các cơ sở y tế nhập khẩu máy móc điều trị da bằng công nghệ bức xạ nhưng nhân sự thiếu Chứng chỉ đào tạo an toàn bức xạ diễn ra như thế nào?

Trong thực tế, một số cơ sở y tế, phòng khám da liễu có thể đầu tư, nhập khẩu hoặc tiếp nhận các thiết bị công nghệ cao để phục vụ điều trị da nhưng chưa đồng thời rà soát đầy đủ điều kiện của người trực tiếp vận hành thiết bị. Điều này có thể dẫn đến tình trạng thiết bị đã được đưa về cơ sở nhưng nhân sự chưa đáp ứng yêu cầu về đào tạo, chứng nhận hoặc các điều kiện chuyên môn có liên quan.

Tuy nhiên, cần xác định đúng phạm vi của chứng chỉ đào tạo an toàn bức xạ trong da liễu. Không phải mọi thiết bị điều trị da đều thuộc phạm vi phải quản lý về an toàn bức xạ và cũng không phải mọi loại Laser, IPL hoặc thiết bị phát ánh sáng đều mặc nhiên làm phát sinh yêu cầu về chứng chỉ an toàn bức xạ. Việc xác định nghĩa vụ phải căn cứ vào đặc tính kỹ thuật của thiết bị, loại bức xạ, mục đích sử dụng và công việc thực tế được thực hiện.

Đối với trường hợp hoạt động thực tế thuộc phạm vi phải bảo đảm an toàn bức xạ, cơ sở phải bố trí nhân sự đáp ứng các yêu cầu tương ứng trước khi đưa thiết bị vào vận hành. Điều 6 Thông tư 59/2025/TT-BKHCN quy định về việc đào tạo, cập nhật kiến thức an toàn bức xạ đối với nhân viên bức xạ; trong đó yêu cầu cập nhật, bổ sung kiến thức chuyên sâu về an toàn bức xạ định kỳ tối thiểu một lần trong 03 năm và huấn luyện hằng năm về nội quy, quy định an toàn bức xạ, quy trình ứng phó sự cố.

Đối với các cơ sở da liễu, thẩm mỹ sử dụng Laser, IPL hoặc thiết bị phát ánh sáng, không nên chỉ căn cứ vào tên thương mại như “Laser điều trị”, “Laser công suất cao” hoặc “công nghệ bức xạ” để kết luận người vận hành bắt buộc phải có chứng chỉ đào tạo an toàn bức xạ. Cơ sở cần kiểm tra hồ sơ kỹ thuật, nguyên lý hoạt động và mục đích sử dụng của thiết bị để xác định chính xác các nghĩa vụ pháp lý phát sinh.

Vì thế, trước khi đưa thiết bị điều trị da vào sử dụng, cơ sở cần rà soát đồng thời tính pháp lý của thiết bị, điều kiện của người vận hành và yêu cầu đào tạo an toàn bức xạ áp dụng cho hoạt động thực tế.

II. Khái niệm và tìm hiểu về chứng chỉ đào tạo an toàn bức xạ trong da liễu

Để tránh nhầm lẫn giữa các loại chứng nhận chuyên môn, cần xác định đúng bản chất pháp lý của giấy tờ đào tạo an toàn bức xạ hiện nay.

1. Chứng chỉ đào tạo an toàn bức xạ trong da liễu là gì?

“Chứng chỉ đào tạo an toàn bức xạ trong da liễu” không phải là tên của một loại chứng chỉ độc lập được pháp luật quy định riêng cho chuyên ngành da liễu. Đây là cách gọi thực tế để chỉ giấy tờ chứng minh người làm việc trong môi trường có yêu cầu về an toàn bức xạ đã được đào tạo kiến thức an toàn bức xạ phù hợp với công việc. Theo đó, nhân viên bức xạ phải được cập nhật, bổ sung kiến thức chuyên sâu về an toàn bức xạ định kỳ tối thiểu 01 lần trong 03 năm và được huấn luyện hằng năm về nội quy, quy định an toàn bức xạ và quy trình ứng phó sự cố theo Điều 6 Thông tư 59/2025/TT-BKHCN.

Việc một nhân viên có phải có chứng chỉ nhân viên bức xạ hay chỉ cần đáp ứng yêu cầu đào tạo an toàn bức xạ còn phụ thuộc vào loại công việc bức xạ, chức danh và yêu cầu pháp luật đối với công việc cụ thể. Đối với lĩnh vực da liễu, thẩm mỹ, đặc biệt là Laser, IPL và các thiết bị phát ánh sáng, không thể chỉ căn cứ vào tên gọi của thiết bị để kết luận người vận hành bắt buộc phải có chứng chỉ đào tạo an toàn bức xạ. Cần xác định trước thiết bị có thuộc phạm vi điều chỉnh của các quy định về an toàn bức xạ hay không, sau đó mới xác định yêu cầu về đào tạo và giấy tờ đối với nhân sự. Kết luận lại, hiện nay không có một loại chứng chỉ độc lập mang tên “Chứng chỉ đào tạo an toàn bức xạ trong da liễu” được quy định riêng. Khi tư vấn cho cơ sở da liễu, cần xác định chính xác loại thiết bị, công việc thực tế và vị trí của người thực hiện để xác định nhân sự phải đáp ứng yêu cầu đào tạo hoặc chứng chỉ nào theo quy định.

2. Những đối tượng nào tại phòng khám da liễu bắt buộc phải có chứng chỉ này?

Không phải tất cả bác sĩ, kỹ thuật viên hay nhân viên làm việc tại phòng khám da liễu đều bắt buộc phải có giấy chứng nhận đào tạo an toàn bức xạ. Nghĩa vụ này trước hết áp dụng đối với nhân viên bức xạ, tức người thực hiện công việc bức xạ thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật về an toàn bức xạ.

Đối với điều kiện nhân lực khi thực hiện thủ tục cấp phép, quy định hiện hành cũng xác định nhân viên bức xạ phải có giấy chứng nhận đào tạo an toàn bức xạ và cơ sở phải có người phụ trách an toàn bức xạ. Người phụ trách an toàn bức xạ phải có chứng chỉ nhân viên bức xạ.

Giấy chứng nhận đào tạo an toàn bức xạ chứng minh người lao động đã được đào tạo theo yêu cầu; trong khi chứng chỉ nhân viên bức xạ được yêu cầu đối với một số chức danh, công việc cụ thể. Theo khoản 3 Điều 21 Nghị định 332/2025/NĐ-CP, các chức danh phải có chứng chỉ nhân viên bức xạ bao gồm người phụ trách an toàn bức xạ, người phụ trách tẩy xạ, người phụ trách ứng phó sự cố bức xạ và hạt nhân, nhân viên vận hành máy gia tốc, nhân viên vận hành thiết bị chiếu xạ sử dụng nguồn phóng xạ và một số chức danh khác được liệt kê tại khoản này.

Đối với phòng khám da liễu, không thể chỉ căn cứ chức danh “bác sĩ”, “kỹ thuật viên” hoặc “nhân viên phòng khám” để kết luận người đó bắt buộc phải có chứng chỉ. Trước hết phải xác định thiết bị mà người đó vận hành và công việc thực tế có thuộc phạm vi công việc bức xạ hay không. Nếu chỉ sử dụng Laser, IPL hoặc thiết bị ánh sáng không thuộc phạm vi công việc bức xạ thì không thể mặc nhiên áp dụng yêu cầu về nhân viên bức xạ.

Vì vậy, đối tượng cần có giấy chứng nhận đào tạo an toàn bức xạ là nhân viên thực hiện công việc bức xạ thuộc diện áp dụng; còn chứng chỉ nhân viên bức xạ chỉ bắt buộc đối với các chức danh, công việc được pháp luật quy định cụ thể. Phòng khám cần xác định chính xác thiết bị và công việc thực tế trước khi kết luận nhân sự nào phải có loại giấy tờ nào.

3. Sự khác biệt giữa "Chứng chỉ đào tạo an toàn bức xạ" và "Chứng chỉ đào tạo liên tục (CME) chuyên khoa da liễu" là gì?

Chứng chỉ đào tạo an toàn bức xạ và chứng chỉ đào tạo liên tục (CME) chuyên khoa da liễu là hai loại giấy tờ có mục đích, đối tượng áp dụng và căn cứ pháp lý khác nhau. Việc hoàn thành CME chuyên khoa da liễu không đương nhiên thay thế được yêu cầu đào tạo an toàn bức xạ đối với nhân viên bức xạ.

Tiêu chí                   

Đào tạo an toàn bức xạ

Đào tạo liên tục (CME) chuyên khoa da liễu

Mục đích

Bảo đảm kiến thức, kỹ năng về an toàn bức xạ

Cập nhật kiến thức chuyên môn khám bệnh, chữa bệnh

Đối tượng

Nhân viên bức xạ thuộc trường hợp áp dụng

Người hành nghề thuộc các chức danh được quy định tại Điều 22 Luật khám bệnh, chữa bệnh 2023

Nội dung

An toàn bức xạ, kiểm soát chiếu xạ, quy trình ứng phó sự cố...

Kiến thức, kỹ thuật và chuyên môn y khoa phù hợp phạm vi hành nghề

Căn cứ chính

Thông tư 59/2025/TT-BKHCN

Điều 22 Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2023 và quy định hướng dẫn

Kết luận lại, đào tạo an toàn bức xạ và CME chuyên khoa da liễu là hai yêu cầu pháp lý khác nhau: một bên nhằm bảo đảm an toàn khi thực hiện công việc bức xạ, một bên nhằm duy trì và cập nhật năng lực chuyên môn y khoa. Vì vậy, chứng nhận CME không thay thế chứng nhận/đào tạo an toàn bức xạ và ngược lại.

4. Căn cứ pháp lý nào để xác định một chương trình đào tạo an toàn bức xạ đáp ứng đúng khung giáo trình quy định cho chuyên ngành y tế/da liễu?

Hiện nay, không có một “khung giáo trình đào tạo an toàn bức xạ riêng cho chuyên ngành da liễu” được quy định độc lập. Việc đánh giá một chương trình đào tạo có đáp ứng yêu cầu hay không phải căn cứ vào loại công việc bức xạ và đối tượng đào tạo, thay vì chỉ dựa vào tên khóa học có ghi “da liễu” hay “thẩm mỹ”.

Về nguyên tắc, Điều 6 Thông tư 59/2025/TT-BKHCN quy định về đào tạo, cập nhật kiến thức an toàn bức xạ đối với nhân viên bức xạ. Theo đó, việc cập nhật, bổ sung kiến thức phải phù hợp với công việc bức xạ mà nhân viên thực hiện; đồng thời, tổ chức, cá nhân tiến hành công việc bức xạ phải tổ chức huấn luyện hằng năm về nội quy, quy định an toàn bức xạ và quy trình ứng phó sự cố. 

Đối với đào tạo để cấp giấy chứng nhận đào tạo an toàn bức xạ, cần lưu ý thêm quy định về điều kiện của tổ chức cung cấp dịch vụ đào tạo. Nghị định 332/2025/NĐ-CP quy định hoạt động dịch vụ đào tạo an toàn bức xạ và điều kiện đối với tổ chức, cá nhân thực hiện dịch vụ này. Đáng chú ý, Điều 72 Nghị định 332/2025/NĐ-CP quy định yêu cầu đối với người hành nghề dịch vụ đào tạo an toàn bức xạ, bao gồm yêu cầu về trình độ chuyên môn và kinh nghiệm phù hợp với nội dung đào tạo.

Vì vậy, khi kiểm tra một chương trình đào tạo, cơ sở không nên chỉ nhìn vào tên “Chứng chỉ đào tạo an toàn bức xạ trong da liễu” mà cần kiểm tra ít nhất các yếu tố: (i) tổ chức đào tạo có đủ điều kiện thực hiện dịch vụ đào tạo hay không; (ii) nội dung đào tạo có phù hợp với loại công việc bức xạ mà người học thực hiện hay không; (iii) thời lượng và nội dung có đáp ứng yêu cầu pháp luật áp dụng hay không; và (iv) giấy chứng nhận được cấp có thể hiện đúng đối tượng, nội dung đào tạo và tổ chức đào tạo hay không.

Kết luận lại, căn cứ để xác định chương trình đào tạo an toàn bức xạ phù hợp không nằm ở việc chương trình có mang tên “da liễu” hay không, mà phải đối chiếu loại công việc bức xạ, nội dung đào tạo, đối tượng đào tạo và điều kiện của tổ chức đào tạo theo quy định hiện hành.

5. Chứng chỉ đào tạo an toàn bức xạ trong da liễu có thời hạn hiệu lực trong bao lâu và thủ tục học định kỳ được quy định ra sao?

Đối với chứng chỉ đào tạo an toàn bức xạ trong da liễu, trước hết cần lưu ý rằng pháp luật hiện hành không quy định một loại chứng chỉ riêng mang đúng tên gọi này và cũng không quy định đơn giản rằng giấy chứng nhận đào tạo có thời hạn hiệu lực cố định là 03 năm. Quy định hiện hành tập trung vào nghĩa vụ đào tạo ban đầu và cập nhật kiến thức an toàn bức xạ định kỳ đối với nhân viên bức xạ.

Theo điểm đ khoản 2 Điều 5 Nghị định 332/2025/NĐ-CP, tổ chức, cá nhân tiến hành công việc bức xạ có trách nhiệm tổ chức đào tạo an toàn bức xạ lần đầu khi tuyển dụng và định kỳ cập nhật kiến thức về an toàn bức xạ cho nhân viên bức xạ. Đồng thời, Điều 6 Thông tư 59/2025/TT-BKHCN, quy định việc cập nhật, bổ sung kiến thức chuyên sâu và thông tin mới về an toàn bức xạ cho nhân viên bức xạ định kỳ tối thiểu một lần trong thời gian 03 năm. Việc cập nhật này phải được thực hiện bởi tổ chức có Giấy đăng ký hoạt động dịch vụ hỗ trợ ứng dụng năng lượng nguyên tử về đào tạo an toàn bức xạ.

Về cơ bản, cơ sở có thể thực hiện theo các bước sau:

  • Bước 1: Xác định nhân sự thuộc diện nhân viên bức xạ.
  • Bước 2: Lựa chọn tổ chức đào tạo đủ điều kiện.
  • Bước 3: Tham gia chương trình đào tạo, cập nhật kiến thức.
  • Bước 4: Cơ sở cập nhật và lưu giữ hồ sơ.

Do đó, cơ sở da liễu cần quản lý hồ sơ đào tạo theo từng nhân viên và loại công việc bức xạ.

III. Quy định pháp luật liên quan đến chứng chỉ đào tạo an toàn bức xạ trong da liễu

Khung pháp lý hiện hành đã có nhiều thay đổi từ năm 2026, do đó cơ sở da liễu cần áp dụng quy định mới thay vì tiếp tục chỉ dựa vào văn bản xử phạt trước đây.

1. Những điều kiện bắt buộc theo quy định về đào tạo an toàn bức xạ áp dụng cho người trực tiếp vận hành thiết bị bức xạ điều trị da liễu?

Đối với người trực tiếp vận hành thiết bị thuộc phạm vi công việc bức xạ, điều kiện về đào tạo an toàn bức xạ phải được xác định theo đúng loại công việc mà người đó thực hiện. Không phải cứ là bác sĩ hoặc kỹ thuật viên vận hành thiết bị Laser trong da liễu thì mặc nhiên phải có chứng chỉ an toàn bức xạ.

Theo khoản 1 Điều 35 Nghị định 332/2025/NĐ-CP, trường hợp người lao động thuộc diện đề nghị cấp chứng chỉ nhân viên bức xạ thì phải được đào tạo về an toàn bức xạ tương ứng với loại hình công việc được đảm nhiệm. Đối với một số vị trí cụ thể, khoản 4 Điều 35 còn yêu cầu được đào tạo các nội dung chuyên môn tương ứng với loại hình công việc.

Đối với nhân viên bức xạ nói chung, Điều 6 Thông tư 59/2025/TT-BKHCN quy định tổ chức, cá nhân tiến hành công việc bức xạ phải tổ chức cập nhật, bổ sung kiến thức chuyên sâu và thông tin mới về an toàn bức xạ cho nhân viên bức xạ ít nhất một lần trong 03 năm. Ngoài ra, hằng năm phải tổ chức huấn luyện về nội quy an toàn bức xạ, quy định của cơ sở và quy trình ứng phó sự cố. Vì vậy, nếu người trực tiếp vận hành thiết bị thuộc diện nhân viên bức xạ, cơ sở cần bảo đảm:

  • Người đó được đào tạo an toàn bức xạ phù hợp với loại công việc;
  • Có Giấy chứng nhận đào tạo an toàn bức xạ nếu đây là giấy tờ được yêu cầu đối với công việc tương ứng;
  • Thực hiện cập nhật kiến thức an toàn bức xạ định kỳ
  • Nếu đảm nhiệm chức danh thuộc trường hợp phải có chứng chỉ nhân viên bức xạ thì phải đáp ứng thêm điều kiện cấp chứng chỉ

Vì vậy, điều kiện bắt buộc về đào tạo an toàn bức xạ chỉ đặt ra khi người vận hành thực hiện công việc thuộc phạm vi phải quản lý về an toàn bức xạ; khi đó nội dung đào tạo phải phù hợp với loại công việc, đồng thời phải thực hiện cập nhật kiến thức định kỳ theo quy định.

2. Chế tài xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi giao cho người chưa có Chứng chỉ đào tạo an toàn bức xạ vận hành thiết bị bức xạ điều trị da?

Chế tài xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi giao cho người chưa có chứng chỉ đào tạo an toàn bức xạ vận hành thiết bị bức xạ điều trị da được quy định như sau: Theo khoản 1 Điều 15 Nghị định 71/2026/NĐ-CP, hành vi không tổ chức đào tạo an toàn bức xạ cho nhân viên bức xạ theo quy định bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với cá nhân. Đối với tổ chức, mức phạt được áp dụng theo nguyên tắc phạt tiền gấp 02 lần mức phạt đối với cá nhân theo quy định chung của Nghị định. Nếu bố trí người đảm nhiệm các công việc thuộc khoản 2 Điều 15 mà không có hoặc sử dụng chứng chỉ nhân viên bức xạ đã hết hạn, mức phạt là 15.000.000–25.000.000 đồng; trong đó có người phụ trách an toàn bức xạ, người vận hành máy gia tốc và vận hành thiết bị chiếu xạ sử dụng nguồn phóng xạ. Vì vậy, phải xác định chính xác loại giấy tờ mà người vận hành bắt buộc có trước khi xác định hành vi và mức phạt.

3. Xử lý với trường hợp phòng khám da liễu sử dụng Chứng chỉ an toàn bức xạ giả hoặc không đúng mẫu quy định?

Việc sử dụng chứng chỉ an toàn bức xạ giả hoặc giấy chứng nhận không hợp pháp để chứng minh điều kiện nhân sự có thể dẫn đến việc hồ sơ nhân sự không được công nhận và phát sinh trách nhiệm hành chính, thậm chí trách nhiệm hình sự tùy tính chất, mức độ vi phạm.

Trước hết, cần phân biệt “giấy tờ giả” với trường hợp giấy chứng nhận không đúng mẫu. Theo quy định hiện hành, hồ sơ quản lý nhân viên bức xạ phải thể hiện thông tin về Giấy chứng nhận đào tạo về an toàn bức xạ, gồm số giấy chứng nhận, ngày cấp và tổ chức cấp; đối với những người thuộc trường hợp phải có chứng chỉ nhân viên bức xạ thì còn phải có thông tin về chứng chỉ tương ứng.

Do đó, nếu giấy chứng nhận có hình thức khác với mẫu hoặc cách trình bày khác nhưng được cấp hợp pháp bởi tổ chức có thẩm quyền và có thể xác minh được, thì không thể chỉ dựa vào việc “không đúng mẫu” để kết luận đó là chứng chỉ giả. Ngược lại, nếu giấy tờ bị làm giả, bị sửa chữa, giả mạo thông tin về số chứng nhận, ngày cấp, tổ chức cấp hoặc được sử dụng khi thực tế người đó chưa tham gia đào tạo thì đây là trường hợp có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng.

Đối với xử phạt hành chính, khoản 1, khoản 2 Điều 15 Nghị định 71/2026/NĐ-CP, trường hợp cơ sở không tổ chức đào tạo an toàn bức xạ theo quy định có thể bị xử phạt từ 10 triệu đến 25 triệu đồng.

Nếu hành vi làm giả hoặc sử dụng giấy tờ giả nhằm thực hiện hành vi trái pháp luật đủ yếu tố cấu thành tội phạm, người thực hiện có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự về Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức theo Điều 341 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Việc có truy cứu trách nhiệm hình sự hay không phải căn cứ vào hành vi cụ thể, mục đích, hậu quả và các dấu hiệu cấu thành tội phạm.

Đối với phòng khám, nếu người quản lý biết hoặc phải biết giấy tờ được sử dụng là giả nhưng vẫn bố trí nhân sự thực hiện công việc bức xạ, ngoài trách nhiệm của cá nhân sử dụng giấy tờ, cơ sở còn có thể bị xử lý đối với các vi phạm về điều kiện nhân lực, đào tạo và bảo đảm an toàn bức xạ theo quy định pháp luật.

Kết luận lại, trường hợp phòng khám da liễu sử dụng chứng chỉ an toàn bức xạ giả không thể được xem là đáp ứng điều kiện về đào tạo chỉ vì có giấy tờ trong hồ sơ. Nếu giấy tờ là giả hoặc bị sử dụng nhằm hợp thức hóa điều kiện nhân sự, tùy trường hợp có thể phát sinh trách nhiệm hành chính hoặc trách nhiệm hình sự. 

4. Căn cứ pháp lý nào để xác định trách nhiệm liên đới của người có Chứng chỉ an toàn bức xạ khi xảy ra sự cố rò rỉ bức xạ hoặc bỏng da nặng cho khách hàng?

Việc một người có chứng chỉ nhân viên bức xạ không đồng nghĩa với việc người đó đương nhiên phải chịu trách nhiệm liên đới khi xảy ra sự cố. Trách nhiệm phải được xác định dựa trên chức trách thực tế, hành vi vi phạm, lỗi và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi của người đó với thiệt hại xảy ra.

Đối với người phụ trách an toàn bức xạ, nếu cơ sở thuộc trường hợp phải bố trí chức danh này thì đây là người có trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ về bảo đảm an toàn bức xạ theo phạm vi được giao. Nghị định 332/2025/NĐ-CP quy định điều kiện đối với người phụ trách an toàn bức xạ, trong đó đối với trường hợp sử dụng nguồn phóng xạ, điểm b khoản 1 Điều 25 yêu cầu phải có người phụ trách an toàn bức xạ và người này phải có chứng chỉ nhân viên bức xạ. Tuy nhiên, có chứng chỉ không phải là căn cứ tự động phát sinh trách nhiệm. Nếu sự cố xảy ra nhưng người phụ trách an toàn đã thực hiện đúng nhiệm vụ, không có hành vi vi phạm và không có lỗi gây ra hoặc góp phần gây ra sự cố thì không thể chỉ dựa vào việc người đó giữ chứng chỉ nhân viên bức xạ để quy trách nhiệm.

Ngược lại, nếu có căn cứ xác định người phụ trách an toàn không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nhiệm vụ được giao, chẳng hạn không kiểm tra việc tuân thủ quy trình an toàn, không thực hiện các biện pháp kiểm soát cần thiết hoặc biết nguy cơ nhưng vẫn để hoạt động tiếp diễn, thì hành vi đó có thể được xem xét khi xác định trách nhiệm hành chính, dân sự hoặc trách nhiệm khác tùy tính chất, mức độ vi phạm.

Đối với trường hợp người bị tổn thương là người bệnh trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, cần đồng thời áp dụng pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh. Theo khoản 1 Điều 100 Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2023, người hành nghề được xác định có sai sót chuyên môn kỹ thuật khi Hội đồng chuyên môn xác định có hành vi vi phạm trách nhiệm trong chăm sóc, điều trị hoặc vi phạm quy định về chuyên môn kỹ thuật. 

Do đó, nếu bác sĩ đồng thời là người phụ trách an toàn bức xạ và trực tiếp thực hiện kỹ thuật, có thể phát sinh nhiều căn cứ trách nhiệm khác nhau: trách nhiệm liên quan đến an toàn bức xạ và trách nhiệm liên quan đến hoạt động khám bệnh, chữa bệnh. Hai vấn đề này cần được đánh giá độc lập.

Về trách nhiệm bồi thường, nếu hành vi vi phạm gây tổn hại đến sức khỏe khách hàng/người bệnh thì việc xác định nghĩa vụ bồi thường được xem xét theo quy định của Bộ luật Dân sự, trong đó Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015 là căn cứ chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm sức khỏe, tính mạng, tài sản và quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác.

Kết luận lại, người có chứng chỉ nhân viên bức xạ không đương nhiên chịu trách nhiệm liên đới chỉ vì mình là người có chứng chỉ. Muốn xác định trách nhiệm phải làm rõ người đó giữ chức vụ gì, được giao nhiệm vụ gì, đã thực hiện nhiệm vụ ra sao, có vi phạm hay không, có lỗi hay không và hành vi đó có quan hệ nhân quả với sự cố hay không. 

IV. Giải đáp các thắc mắc thường gặp liên quan đến chứng chỉ đào tạo an toàn bức xạ trong da liễu

Những câu hỏi dưới đây cần được trả lời trên cơ sở phân biệt giữa pháp luật về năng lượng nguyên tử và pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh.

1. Bác sĩ chuyên khoa Da liễu đã có Giấy phép hành nghề thì có bắt buộc phải học thêm Chứng chỉ an toàn bức xạ không?

Không phải mọi bác sĩ da liễu đều bắt buộc phải có chứng chỉ đào tạo an toàn bức xạ. Giấy phép hành nghề xác nhận điều kiện hành nghề khám bệnh, chữa bệnh; còn đào tạo an toàn bức xạ phát sinh khi người đó thực hiện công việc bức xạ thuộc phạm vi pháp luật năng lượng nguyên tử. Điều 19 Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2023 yêu cầu người hành nghề phải có giấy phép hành nghề còn hiệu lực và đáp ứng các điều kiện khác theo luật. Do đó, bác sĩ da liễu thực hiện các kỹ thuật bằng thiết bị thuộc phạm vi công việc bức xạ phải đáp ứng thêm yêu cầu tương ứng; còn sử dụng thiết bị laser không ion hóa không đương nhiên phát sinh nghĩa vụ về giấy chứng nhận đào tạo theo Luật Năng lượng nguyên tử. Vì vậy, Giấy phép hành nghề và giấy chứng nhận an toàn bức xạ là hai điều kiện hoàn toàn khác nhau.

2. Kỹ thuật viên spa không có bằng cấp y khoa nhưng có Chứng chỉ an toàn bức xạ thì có được trực tiếp chiếu Laser trị liệu cho khách không?

Không thể căn cứ vào việc có chứng chỉ đào tạo an toàn bức xạ để cho phép kỹ thuật viên spa trực tiếp thực hiện chiếu Laser trị liệu cho khách hàng. Hai vấn đề này thuộc hai nhóm điều kiện pháp lý khác nhau: chứng nhận đào tạo an toàn bức xạ chỉ nhằm chứng minh kiến thức về an toàn bức xạ, không thay thế điều kiện về chuyên môn và quyền hành nghề khám bệnh, chữa bệnh.

Theo khoản 4 Điều 2 Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2023, người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh là người đã được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp giấy phép hành nghề khám bệnh, chữa bệnh. Đồng thời, khoản 1 Điều 19 quy định cá nhân chỉ được phép hành nghề khi có giấy phép hành nghề còn hiệu lực, đã đăng ký hành nghề và đáp ứng các điều kiện luật định. Do đó, nếu “Laser trị liệu” được sử dụng với mục đích khám bệnh, chữa bệnh, kỹ thuật viên spa không có trình độ chuyên môn y tế và không có giấy phép hành nghề phù hợp không thể chỉ dựa vào chứng chỉ an toàn bức xạ để trực tiếp thực hiện kỹ thuật này.

Kết luận lại, kỹ thuật viên spa không thể dùng chứng chỉ an toàn bức xạ để thay thế bằng cấp chuyên môn hoặc giấy phép hành nghề y tế. Nếu Laser được sử dụng để thực hiện hoạt động khám bệnh, chữa bệnh, người trực tiếp thực hiện phải đáp ứng các điều kiện hành nghề và phạm vi chuyên môn theo Luật Khám bệnh, chữa bệnh; việc có thêm chứng nhận về an toàn bức xạ chỉ là điều kiện liên quan đến an toàn bức xạ, không phải điều kiện trao quyền điều trị cho khách hàng.

3. Mức xử phạt đối với phòng khám da liễu để chứng chỉ an toàn bức xạ của nhân viên bị hết hạn mà chưa học lại là bao nhiêu tiền?

Đối với trường hợp cơ sở không tổ chức đào tạo, cập nhật kiến thức an toàn bức xạ theo quy định, hành vi này có thể bị xử phạt theo khoản 2 Điều 15 Nghị định 71/2026/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với hành vi bố trí người đảm nhiệm các công việc thuộc diện bắt buộc phải có chứng chỉ nhân viên bức xạ nhưng không có hoặc sử dụng chứng chỉ đã hết hạn. Đối với tổ chức, mức phạt tương ứng là 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Ngoài tiền phạt, tùy hành vi cụ thể, cơ sở còn có thể phải khắc phục tình trạng không bảo đảm điều kiện về nhân sự, tổ chức đào tạo/cập nhật kiến thức và không tiếp tục bố trí người không đủ điều kiện thực hiện công việc bức xạ cho đến khi đáp ứng đầy đủ yêu cầu pháp luật. Như vậy, đối với tổ chức nếu bố trí nhân viên sử dụng chứng chỉ nhân viên bức xạ đã hết hạn, đồng thời phải khắc phục và bảo đảm nhân sự đáp ứng đầy đủ điều kiện theo quy định.

4. Trường hợp bị thất lạc hoặc hư hỏng Chứng chỉ đào tạo an toàn bức xạ thì thủ tục xin cấp lại bản sao tại cơ sở đào tạo ban đầu như thế nào?

Đối với trường hợp bị thất lạc hoặc hư hỏng Giấy chứng nhận đào tạo an toàn bức xạ, cần lưu ý rằng pháp luật hiện hành chưa quy định một thủ tục cấp lại bản sao thống nhất áp dụng cho mọi Giấy chứng nhận đào tạo an toàn bức xạ. Điều 36 Nghị định 332/2025/NĐ-CP hiện quy định rõ thủ tục cấp, cấp lại chứng chỉ nhân viên bức xạ, nhưng không thiết lập một thủ tục hành chính riêng về cấp lại bản sao Giấy chứng nhận đào tạo an toàn bức xạ do cơ sở đào tạo đã cấp.

Do đó, nếu người học bị mất hoặc làm hư hỏng giấy chứng nhận đào tạo, cách xử lý phù hợp trước hết là liên hệ trực tiếp với cơ sở đã tổ chức đào tạo và cấp giấy chứng nhận để đề nghị kiểm tra hồ sơ đào tạo và cấp lại bản sao hoặc xác nhận kết quả đào tạo, nếu cơ sở có lưu trữ hồ sơ và quy chế nội bộ cho phép. Sau khi tiếp nhận yêu cầu, cơ sở đào tạo có thể đối chiếu hồ sơ học viên, kết quả đào tạo, số giấy chứng nhận và dữ liệu lưu trữ để xác định việc người đó đã hoàn thành chương trình đào tạo. Việc có cấp “bản sao”, “cấp lại” hay chỉ cấp văn bản xác nhận kết quả đào tạo sẽ phụ thuộc vào hồ sơ và quy chế của cơ sở đào tạo; hiện nay chưa có quy định cụ thể về một mẫu đơn, thành phần hồ sơ và thời hạn giải quyết thống nhất áp dụng cho trường hợp này. Kết luận lại, nếu bị mất hoặc hư hỏng chứng chỉ/giấy chứng nhận đào tạo an toàn bức xạ, hiện nay chưa có thủ tục hành chính thống nhất về cấp lại bản sao áp dụng cho mọi trường hợp. Người học nên liên hệ cơ sở đào tạo ban đầu, cung cấp thông tin khóa học và giấy tờ chứng minh nhân thân để đề nghị tra cứu hồ sơ và cấp bản sao hoặc xác nhận kết quả đào tạo theo quy định của cơ sở. Trường hợp bị mất chứng chỉ nhân viên bức xạ thì áp dụng thủ tục cấp lại theo quy định riêng của pháp luật.

5. Làm sao để tra cứu và kiểm tra tính thật/giả của một Chứng chỉ đào tạo an toàn bức xạ?

Hiện nay, chưa có quy định về một cổng tra cứu công khai, thống nhất để kiểm tra toàn bộ Giấy chứng nhận đào tạo an toàn bức xạ trên phạm vi cả nước. Vì vậy, việc xác minh tính thật, giả của giấy chứng nhận chủ yếu được thực hiện bằng cách đối chiếu thông tin trên giấy chứng nhận với hồ sơ đào tạo và xác minh trực tiếp tại tổ chức đã cấp giấy.

Theo quy định hiện hành, hồ sơ quản lý nhân viên bức xạ phải thể hiện các thông tin về Giấy chứng nhận đào tạo về an toàn bức xạ, gồm số giấy chứng nhận, ngày cấp và tổ chức cấp. Đây là những thông tin quan trọng để kiểm tra tính xác thực của giấy chứng nhận. Để kiểm tra, cơ sở có thể thực hiện theo các bước sau:

  • Bước 1: Kiểm tra thông tin trên giấy chứng nhận.
  • Bước 2: Xác minh tổ chức cấp giấy.
  • Bước 3: Liên hệ trực tiếp với tổ chức đào tạo.
  • Bước 4: Kiểm tra tính phù hợp của nội dung đào tạo.

Ngoài ra, cần phân biệt Giấy chứng nhận đào tạo an toàn bức xạ với chứng chỉ nhân viên bức xạ. Đối với Chứng chỉ nhân viên bức xạ, hồ sơ cấp chứng chỉ có yêu cầu bản sao Giấy chứng nhận đào tạo an toàn bức xạ; do đó, giấy chứng nhận đào tạo là một căn cứ để chứng minh điều kiện đào tạo của người đề nghị cấp chứng chỉ nhân viên bức xạ.

V. Tại sao nên lựa chọn dịch vụ liên quan đến chứng chỉ đào tạo an toàn bức xạ trong da liễu tại NPLaw?

Với các cơ sở da liễu, vấn đề quan trọng không chỉ là có một giấy chứng nhận mà là xác định đúng nghĩa vụ pháp lý đối với từng loại thiết bị và từng vị trí nhân sự. NPLaw có thể hỗ trợ rà soát cơ sở pháp lý liên quan đến thiết bị, phân biệt trường hợp thuộc phạm vi Luật Năng lượng nguyên tử với trường hợp thuộc pháp luật về thiết bị y tế, khám bệnh chữa bệnh; kiểm tra hồ sơ đào tạo, tư vấn yêu cầu nhân sự và đánh giá rủi ro pháp lý khi cơ sở bố trí người vận hành thiết bị.

Đối với trường hợp phát sinh sự cố, NPLaw có thể hỗ trợ rà soát trách nhiệm của cơ sở, người đứng đầu, người phụ trách an toàn và nhân viên thực hiện kỹ thuật trên cơ sở hồ sơ, quy trình chuyên môn, giấy phép, giấy chứng nhận và nguyên nhân thực tế của sự cố. Vì vậy, việc tư vấn pháp lý trước khi đưa thiết bị vào sử dụng và trước khi bố trí nhân sự sẽ giúp cơ sở da liễu hạn chế rủi ro về giấy phép, điều kiện nhân lực, an toàn bức xạ và trách nhiệm pháp lý.

Trên đây là các thông tin mang tính tham khảo, Quý khách hàng cần tư vấn chi tiết về trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ cho Hãng luật NPLaw để được tư vấn ngay.