Chứng chỉ bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên là nội dung được nhiều người quan tâm khi tham gia hoạt động đào tạo, tham vấn và hỗ trợ tâm lý. Tuy nhiên, cần phân biệt rõ giá trị của chứng chỉ bồi dưỡng với bằng cấp chuyên môn và giấy phép hành nghề. Bài viết dưới đây làm rõ các quy định liên quan, từ thẩm quyền cấp, giá trị sử dụng đến trách nhiệm pháp lý khi sử dụng chứng chỉ không hợp lệ.
I. Giới thiệu các vấn đề liên quan đến chứng chỉ bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên
Chứng chỉ bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên là loại chứng nhận đào tạo được quan tâm trong lĩnh vực hỗ trợ và trị liệu tâm lý. Để xác định đúng giá trị của chứng chỉ bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên, cần xem xét điều kiện đào tạo, thẩm quyền cấp, phạm vi sử dụng và mối quan hệ với giấy phép hành nghề theo quy định pháp luật.
II. Tìm hiểu về chứng chỉ bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên
Việc tìm hiểu chứng chỉ bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên cần tập trung vào khái niệm, giá trị pháp lý và phạm vi sử dụng của chứng chỉ.
1. Chứng chỉ bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên là gì?
Hiện nay, pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh chưa quy định “chứng chỉ bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên” là một loại giấy phép hành nghề độc lập. Theo khoản 1 Điều 26 Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2023, tâm lý lâm sàng là một trong các chức danh chuyên môn phải có giấy phép hành nghề.

Đồng thời, Điều 10 và khoản 11 Điều 11 Thông tư 32/2023/TT-BYT quy định phạm vi hành nghề của người có chức danh tâm lý lâm sàng, trong đó bao gồm đánh giá rối loạn tâm thần và thực hiện các can thiệp tâm lý tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; các kỹ thuật chuyên môn tương ứng được quy định tại Phụ lục XVI ban hành kèm Thông tư.
Do đó, chứng chỉ bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên nên được hiểu là chứng nhận về việc hoàn thành chương trình đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, không thay thế giấy phép hành nghề tâm lý lâm sàng và không đương nhiên xác lập quyền thực hiện các kỹ thuật khám bệnh, chữa bệnh. Việc thực hiện kỹ thuật chuyên môn phải căn cứ vào giấy phép hành nghề, phạm vi hành nghề và các quy định chuyên môn có liên quan.
2. Những đặc điểm nhận dạng pháp lý cốt lõi của một chứng chỉ bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên có giá trị toàn quốc là gì?
Hiện nay, pháp luật chưa quy định riêng một loại “chứng chỉ bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên” có giá trị toàn quốc. Đối với hoạt động khám bệnh, chữa bệnh, tâm lý lâm sàng là một chức danh chuyên môn phải có giấy phép hành nghề theo quy định của Luật Khám bệnh, chữa bệnh.
Do đó, khi đánh giá giá trị pháp lý của một chứng chỉ mang tên này, cần kiểm tra đơn vị cấp, căn cứ và thẩm quyền cấp, chương trình đào tạo, thời lượng đào tạo, nội dung được chứng nhận và phạm vi sử dụng. Chứng chỉ bồi dưỡng chỉ xác nhận việc hoàn thành chương trình đào tạo, bồi dưỡng và không mặc nhiên thay thế giấy phép hành nghề tâm lý lâm sàng hoặc làm phát sinh quyền thực hiện hoạt động khám bệnh, chữa bệnh.
3. Thời hạn sử dụng và giá trị tích lũy đào tạo liên tục của chứng chỉ bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên được quy định ra sao?
Hiện nay, không có quy định riêng về thời hạn sử dụng của chứng chỉ bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên. Trường hợp chứng chỉ được cấp trong chương trình đào tạo liên tục dành cho cán bộ y tế thì cần phân biệt giữa thời hạn của chứng chỉ và thời gian dùng để tích lũy đào tạo liên tục.
Theo Điều 5 Thông tư 22/2013/TT-BYT, cán bộ y tế đã được cấp chứng chỉ hành nghề và đang hành nghề khám bệnh, chữa bệnh phải tham gia đào tạo liên tục tối thiểu 48 tiết học trong 02 năm liên tiếp. Đối với các trường hợp khác, yêu cầu là tối thiểu 120 tiết học trong 05 năm liên tiếp, trong đó mỗi năm tối thiểu 12 tiết. Thời gian tham gia các hình thức đào tạo liên tục khác nhau được cộng dồn để tính tổng thời gian đào tạo.
4. Chứng chỉ bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên khác biệt như thế nào so với bằng cử nhân tâm lý học đại cương và chứng chỉ tham vấn thông thường?
Để hiểu rõ giá trị và phạm vi sử dụng, cần phân biệt chứng chỉ bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên với bằng cử nhân tâm lý học và các chứng chỉ tham vấn thông thường.

Ba loại giấy tờ này có giá trị và mục đích sử dụng khác nhau. Cụ thể:
- Chứng chỉ bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên: về bản chất là văn bản xác nhận người học đã hoàn thành một chương trình bồi dưỡng chuyên môn nhất định. Pháp luật hiện hành chưa quy định đây là một loại giấy phép hành nghề độc lập và chứng chỉ này không tự làm phát sinh quyền hành nghề tâm lý lâm sàng.
- Bằng cử nhân tâm lý học: là văn bằng giáo dục đại học, có giá trị xác nhận trình độ đào tạo. Đáng chú ý, theo điểm a khoản 8 Điều 8 Nghị định 96/2023/NĐ-CP, văn bằng cử nhân tâm lý học kèm chứng chỉ đào tạo chuyên khoa cơ bản về tâm lý lâm sàng là một trong các căn cứ để người học tham dự kiểm tra đánh giá năng lực cấp giấy phép hành nghề đối với chức danh tâm lý lâm sàng.
- Chứng chỉ tham vấn thông thường: chủ yếu xác nhận việc hoàn thành chương trình đào tạo, bồi dưỡng về tham vấn theo nội dung của chương trình. Chứng chỉ này không đồng nghĩa với bằng cử nhân tâm lý học và cũng không đương nhiên đáp ứng điều kiện để được cấp giấy phép hành nghề tâm lý lâm sàng.
Như vậy, chứng chỉ bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên không thể được xem là tương đương với bằng cử nhân tâm lý học hoặc giấy phép hành nghề tâm lý lâm sàng. Khi sử dụng trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh, cần đối chiếu riêng điều kiện về văn bằng, chứng chỉ đào tạo chuyên khoa và giấy phép hành nghề theo quy định pháp luật. Bộ Y tế cũng đã khẳng định chứng chỉ tâm lý học lâm sàng không tự thay thế yêu cầu về văn bằng chuyên môn để xác định chức danh và phạm vi hành nghề.
III. Các quy định pháp luật có liên quan đến chứng chỉ bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên
Để xác định giá trị pháp lý, thẩm quyền cấp và phạm vi sử dụng của chứng chỉ bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên, cần đối chiếu đồng thời các quy định về đào tạo, bồi dưỡng và hành nghề có liên quan.
1. Cơ quan hoặc đơn vị nào có thẩm quyền cấp chứng chỉ bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên?
Trường hợp chứng chỉ bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên được cấp dưới hình thức chứng chỉ đào tạo liên tục trong lĩnh vực y tế, cơ sở đào tạo liên tục là đơn vị có thẩm quyền cấp chứng chỉ cho người học. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 14 Thông tư 22/2013/TT-BYT, được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 10 Điều 1 Thông tư 26/2020/TT-BYT, chứng chỉ đào tạo liên tục do cơ sở đào tạo liên tục cấp cho người học khi đáp ứng yêu cầu của khóa học.
2. Trình tự và thủ tục xin cấp chứng chỉ bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên diễn ra thế nào?
Theo quy định hiện hành, chứng chỉ bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên được cấp sau khi người học hoàn thành khóa đào tạo và đáp ứng đầy đủ yêu cầu của chương trình.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 14 Thông tư 22/2013/TT-BYT, được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 10 Điều 1 Thông tư 26/2020/TT-BYT, chứng chỉ đào tạo liên tục được cơ sở đào tạo liên tục cấp cho người học khi đáp ứng yêu cầu của khóa học. Các khóa đào tạo để cấp chứng chỉ phải có chương trình và tài liệu đào tạo được xây dựng, thẩm định và ban hành theo quy định.
Theo đó, người học có thể thực hiện theo trình tự sau:
- Đăng ký tham gia khóa đào tạo: Người có nhu cầu đăng ký khóa đào tạo bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên tại cơ sở đào tạo liên tục có chương trình phù hợp.
- Tham gia đầy đủ khóa học: Người học thực hiện các yêu cầu về thời gian, nội dung đào tạo và các yêu cầu khác theo chương trình được cơ sở đào tạo ban hành.
- Hoàn thành và đánh giá kết quả: Cơ sở đào tạo kiểm tra việc đáp ứng các yêu cầu của khóa học, bao gồm các nội dung đánh giá nếu chương trình đào tạo có quy định.
- Cấp chứng chỉ: Người học đáp ứng đầy đủ yêu cầu của khóa học sẽ được cơ sở đào tạo liên tục cấp chứng chỉ đào tạo liên tục theo điểm a khoản 1 Điều 14 nêu trên.
- Quản lý và sử dụng chứng chỉ: Chứng chỉ được sử dụng để xác nhận việc tham gia và hoàn thành khóa đào tạo. Việc chứng chỉ có được sử dụng để đáp ứng một điều kiện hành nghề hoặc được tính vào thời gian đào tạo liên tục hay không phải tiếp tục đối chiếu với quy định chuyên ngành tương ứng.

Theo vậy, chứng chỉ bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên không được cấp thông qua một thủ tục hành chính riêng tại Bộ Y tế. Thẩm quyền cấp thuộc cơ sở đào tạo liên tục tổ chức khóa học, sau khi người học đáp ứng các yêu cầu của chương trình đào tạo.
3. Quy trình thẩm định tính hợp lệ của chứng chỉ bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên khi cơ quan chức năng tiến hành thanh tra hoạt động y tế - giáo dục là gì?
Đối với chứng chỉ bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên được cấp dưới hình thức chứng chỉ đào tạo liên tục ngành y tế, pháp luật hiện hành không quy định một quy trình riêng mang tên “thẩm định tính hợp lệ của chứng chỉ” khi thanh tra. Tuy nhiên, cơ quan có thẩm quyền có thể kiểm tra việc tổ chức đào tạo và việc cấp chứng chỉ của cơ sở đào tạo liên tục.
Căn cứ khoản 2 Điều 15 Thông tư 22/2013/TT-BYT, được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 11 Điều 1 Thông tư 26/2020/TT-BYT, Cục Khoa học công nghệ và Đào tạo có trách nhiệm kiểm tra việc tổ chức đào tạo liên tục của các cơ sở đào tạo liên tục trên toàn quốc và kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý nếu phát hiện cơ sở không đáp ứng yêu cầu. Đồng thời, khoản 3 Điều 15 quy định trách nhiệm quản lý của Sở Y tế đối với hoạt động đào tạo liên tục thuộc phạm vi quản lý.
Về căn cứ xác định chứng chỉ hợp lệ, điểm a khoản 1 Điều 14 Thông tư 22/2013/TT-BYT, được sửa đổi bởi khoản 10 Điều 1 Thông tư 26/2020/TT-BYT, quy định chứng chỉ đào tạo liên tục phải do cơ sở đào tạo liên tục cấp, cho người học tham gia khóa đào tạo và đáp ứng yêu cầu của khóa học; riêng khóa đào tạo cấp chứng chỉ phải có chương trình, tài liệu được xây dựng, thẩm định và ban hành theo Điều 7.
IV. Các thắc mắc thường gặp liên quan đến chứng chỉ bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên
Các vấn đề thực tế thường phát sinh liên quan đến chứng chỉ bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên sẽ được giải đáp qua những câu hỏi dưới đây.
1. Doanh nghiệp có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động ngay lập tức mà không cần báo trước nếu phát hiện người lao động gian lận chứng chỉ bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên không? Vì sao?
Doanh nghiệp có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nếu người lao động gian lận chứng chỉ bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên trong trường hợp hành vi này dẫn đến việc cung cấp không trung thực thông tin khi giao kết hợp đồng lao động và làm ảnh hưởng đến việc tuyển dụng.
Cụ thể, điểm g khoản 1 Điều 36 Bộ luật Lao động 2019 cho phép người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng khi người lao động cung cấp không trung thực các thông tin theo khoản 2 Điều 16 khi giao kết hợp đồng và việc này làm ảnh hưởng đến tuyển dụng.
Tuy nhiên, trường hợp này không phải là được chấm dứt ngay mà không cần báo trước. Theo khoản 2 Điều 36, khi áp dụng điểm g khoản 1 Điều 36, người sử dụng lao động vẫn phải bảo đảm thời hạn báo trước theo loại hợp đồng: ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng không xác định thời hạn, 30 ngày đối với hợp đồng xác định thời hạn từ 12 đến 36 tháng và 03 ngày làm việc đối với hợp đồng xác định thời hạn dưới 12 tháng.
2. Quy trình, thủ tục xin cấp bản sao trích lục từ sổ gốc khi làm mất bản chính chứng chỉ bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên được pháp luật quy định thế nào?
Trường hợp làm mất bản chính chứng chỉ bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên, nếu chứng chỉ này được cấp dưới hình thức chứng chỉ đào tạo liên tục, việc cấp bản sao từ sổ gốc có thể thực hiện theo quy định chung tại Nghị định 23/2015/NĐ-CP, đã được sửa đổi, bổ sung, trong đó có Nghị định 280/2025/NĐ-CP.
Theo Điều 17 Nghị định 23/2015/NĐ-CP, người được cấp bản chính có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức đang quản lý sổ gốc cấp bản sao. Cơ quan, tổ chức căn cứ vào sổ gốc để cấp bản sao và phải bảo đảm nội dung bản sao phù hợp với thông tin được ghi trong sổ gốc.
Đối với chứng chỉ đào tạo liên tục, điểm a khoản 1 Điều 14 Thông tư 22/2013/TT-BYT, được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 10 Điều 1 Thông tư 26/2020/TT-BYT, xác định chứng chỉ đào tạo liên tục do cơ sở đào tạo liên tục cấp cho người học sau khi hoàn thành khóa học và đáp ứng yêu cầu của khóa học. Do đó, người bị mất bản chính cần liên hệ chính cơ sở đào tạo liên tục đã cấp chứng chỉ để đề nghị cấp bản sao từ sổ gốc.
Về hồ sơ và cách thực hiện, người yêu cầu chuẩn bị giấy tờ theo Điều 17 (sửa đổi bởi khoản 7 Điều 1 Nghị định 280/2025/NĐ-CP) và Điều 18 Nghị định 23/2015/NĐ-CP, xuất trình giấy tờ tùy thân và cung cấp thông tin cần thiết để cơ sở cấp chứng chỉ tra cứu sổ gốc. Trường hợp không còn sổ gốc hoặc không có thông tin để đối chiếu thì cơ sở không có căn cứ để cấp bản sao từ sổ gốc.
Vậy, việc làm mất bản chính không làm mất giá trị của thông tin đã được ghi nhận trong sổ gốc. Người học có thể đề nghị cơ sở đào tạo đã cấp chứng chỉ cấp bản sao từ sổ gốc theo quy định pháp luật hiện hành.
3. Trách nhiệm pháp lý và bồi thường thiệt hại của chuyên viên có chứng chỉ bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên phát sinh ra sao khi xảy ra sự cố?
Khi xảy ra tai biến y khoa, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh là chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường cho người bệnh, trừ trường hợp người hành nghề được Hội đồng chuyên môn xác định không có sai sót chuyên môn kỹ thuật. Quy định này được nêu tại Điều 76 Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2023.
Nếu có sai sót chuyên môn kỹ thuật, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và người hành nghề còn có thể phải chịu các trách nhiệm pháp lý khác theo khoản 2 Điều 76. Trường hợp cơ sở đã bồi thường, trách nhiệm hoàn trả của người có lỗi được xem xét theo Điều 597 Bộ luật Dân sự 2015.
Về mức bồi thường, thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm được xác định theo Điều 590 Bộ luật Dân sự 2015, gồm chi phí cứu chữa, phục hồi sức khỏe, thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút, chi phí và thu nhập bị mất của người chăm sóc cùng các thiệt hại khác theo luật định; đồng thời có thể bao gồm khoản bù đắp tổn thất về tinh thần.
4. Hành vi mua bán, làm giả hoặc sử dụng chứng chỉ bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên giả mạo bị xử phạt vi phạm hành chính và truy cứu trách nhiệm hình sự thế nào?
Hành vi mua bán, làm giả hoặc sử dụng chứng chỉ bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên giả cần được xem xét tùy theo tính chất của chứng chỉ và hành vi cụ thể.
Nếu chứng chỉ thuộc phạm vi văn bằng, chứng chỉ giáo dục nghề nghiệp, hành vi sử dụng văn bằng, chứng chỉ của người khác hoặc sử dụng văn bằng, chứng chỉ bị tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung có thể bị phạt 10.000.000 - 20.000.000 đồng theo điểm a, b khoản 1 Điều 23 Nghị định 88/2022/NĐ-CP; đồng thời có thể bị buộc nộp lại và kiến nghị thu hồi văn bằng, chứng chỉ theo điểm a khoản 4 Điều 23 Nghị định này.
Đối với hành vi làm giả hoặc sử dụng tài liệu, giấy tờ giả của cơ quan, tổ chức để thực hiện hành vi trái pháp luật, người vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức theo Điều 341 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025. Khung cơ bản là phạt tiền 30.000.000 - 100.000.000 đồng, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm; các trường hợp có tình tiết định khung có thể bị phạt tù đến 07 năm.
5. Biện pháp chế tài nào áp dụng đối với trung tâm đào tạo chui tự ý cấp chứng chỉ bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên?
Trường hợp đơn vị không có thẩm quyền nhưng tự ý cấp chứng chỉ thuộc phạm vi văn bằng, chứng chỉ giáo dục nghề nghiệp, hành vi này có thể bị xử phạt theo điểm c khoản 3 Điều 22 Nghị định 88/2022/NĐ-CP, với mức phạt từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi cấp văn bằng, chứng chỉ cho người học không đúng thẩm quyền. Đồng thời, theo điểm l khoản 8 Điều 22, cơ sở vi phạm còn có thể bị buộc thu hồi, hủy bỏ văn bằng, chứng chỉ đã cấp.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng chứng chỉ bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên không mặc nhiên là văn bằng, chứng chỉ giáo dục nghề nghiệp. Nếu đây là chứng chỉ đào tạo liên tục trong lĩnh vực y tế thì phải xác định đơn vị cấp có phải là cơ sở đào tạo liên tục được Bộ Y tế công nhận hay không. Theo Điều 14 Thông tư 22/2013/TT-BYT, chứng chỉ đào tạo liên tục được cấp bởi cơ sở đào tạo liên tục cho người học đáp ứng yêu cầu của khóa học.
V. Bạn đang tìm một chuyên gia pháp lý uy tín để hỗ trợ vấn đề liên quan đến chứng chỉ bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên?
Nếu bạn đang gặp vướng mắc về chứng chỉ bồi dưỡng tâm lý trị liệu trẻ em và thanh thiếu niên, việc được tư vấn bởi đơn vị có chuyên môn pháp lý trong lĩnh vực y tế, giáo dục là cần thiết để xác định đúng giá trị pháp lý của chứng chỉ, điều kiện cấp và sử dụng chứng chỉ cũng như trách nhiệm khi phát sinh vi phạm.
NPLaw cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý liên quan đến hoạt động đào tạo, chứng chỉ và hành nghề, hỗ trợ cá nhân, tổ chức rà soát hồ sơ, xác định quy định pháp luật áp dụng và đưa ra phương án xử lý phù hợp. Khách hàng có thể liên hệ NPLaw để được tư vấn cụ thể theo từng trường hợp.
Trên đây là các thông tin mang tính tham khảo, Quý khách hàng cần tư vấn chi tiết về trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ cho Hãng luật NPLaw để được tư vấn ngay.